Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN DẠY MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên Theo Tổ chức Liên hiệp quốc, giáo viên có vai trò chủ yếu trong việc truyền dạy và phổ biến các kiến thức và kinh nghiệm của loài người từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do vậy, khuyến khích sự ưu tú trong giảng dạy của giáo viên; tăng cường phát triển trình độ, năng lực của giáo viên thông qua phương tiện khoa học công nghệ mới; và tăng cường nhận thức của toàn xã hội về vai trò và vị trí của giáo viên đối với xã hội [31].
Tác giả Michael Fullan đề cập đến các lĩnh vực phát triển của giáo viên, cụ thể như: (1) Phát triển tâm lý, (2) phát triển chuyên môn, (3) Phát triển nghề nghiệp [32]. Học giả Bernd Meier đã nêu quan điểm: “Là người GV cần thể hiện năng lực hạt nhân/chủ đạo như năng lực dạy học, giáo dục, chẩn đoán, tư vấn, đánh giá, tiếp tục phát triển nghề nghiệp và nhà trường” [30]. Theo Thái Duy Tuyên cho biết đối với người thầy phải có đủ phẩm chất và năng lực cần thiết ở nhà trường như: năng lực chẩn đoán nguyện vọng, nhu cầu, năng lực của HS; kiến thức chuyên môn sâu sắc, vững vàng; trình độ văn hóa chung phổ biến; có khả năng xử lý và nắm bắt các thông tin cập nhật; có khả năng diễn đạt rõ ràng; sử dụng ngôn ngữ lưu loát, kiềm chế bản thân. Những phẩm chất đạo đức nghề nghiệp đáng kính: lòng yêu mền HS, luôn cởi mởi, hết lòng phục vụ nhân dân, gương mẫu trong đời sống cá 9 nhân và công việc thực hiện; có tri thức giáo dục khoa học như: dạy học, quan hệ thầy – trò; giá trị đạo đức trước bối cảnh xã hội ngày nay [27].
Tác giả Nguyễn Hữu Châu cho rằng giáo viên cần có những năng lực cơ bản sau: “chẩn đoán; đáp ứng; đánh giá; thiết lập mối quan hệ thuận lợi với người khác, nhất là với HS; triển khai chương trình GD; đáp ứng trách nhiệm với xã hội” [8]. Theo Nguyễn Thị Mĩ Lộc thì GV cần đạt tiêu chuẩn: “Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người giáo viên; Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục; Năng lực thực hiện kế hoạch dạy học; Năng lực thực hiện kế hoạch giáo dục; Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và rèn luyện đạo đức; Năng lực hoạt động chính trị xã hội; Năng lực phát triển nghề nghiệp” [12]. Nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên Theo các tác giả Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Quốc Bảo, thì việc phát triển ĐNGV được quán triệt theo yêu cầu của phát triển nhân lực là: (i) đủ về số lượng nghĩa là số lượng GV đảm bảo cân bằng trong điều kiện GD cụ thể mỗi trường, với điều kiện kinh tế, nhưng thực tiễn thì đội ngũ này còn hạn chế tỷ lệ GV theo HS; (ii) GV phải đạt chuẩn chất lượng gồm chuẩn về trình độ chuyên môn; chuẩn về nghiệp vụ sư phạm; chuẩn về đạo đức; (iii) ĐNGV phải đồng bộ về cơ cấu: là sự tương thích về độ tuổi, giới tính, nghiệp vụ sư phạm và môn giảng dạy trong nhà trường [1]. Theo Đặng Bá Lãm thì quan niệm phát triển ĐNGV là: (i) Tăng trường về chất và lượng, điều này hữu ích cho quá trình chuẩn bị lực lượng trước sự biến chuyển của GD; (ii) Khi phát triển ĐNGV thì cần thực hiện đúng quy trình tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo và phát triển nghề; (iii) Xây dựng ĐNGV đồng bộ về cơ cấu, có chất lượng và số lượng đáp ứng với kế hoạch và nội dung yêu cầu giáo dục.
Khi xây dựng bầu không khí sư phạm tập thể 10 mỗi cá nhân đều phát huy được sức mạnh, trách nhiệm với nhà trường, thể hiện sự sáng tạo trong dạy học. Nội dung công tác phát triển GV liên quan đến quy mô, cơ cấu, chất lượng đội ngũ GV [10]. Theo Nguyễn Thị Hồng Nam khi phát triển chuyên môn cho GV thì cần phải có tính đa dạng về hình thức phát triển chuyên môn; tiến hành khảo sát nhu cầu tham gia của GV về chương trình BD, nội dung BD sát thực, đáp ứng nguyện vọng của GV, thể hiện các phương pháp BD hiện đại, có lý thuyết và thực hành hợp lý (dẫn theo [10]). Tác giả Bùi Thị Ngọc Diệp, khẳng định vai trò của giáo viên người DTTS trong đổi mới phương thức đào tạo ở trường PTDTNT, vì giáo viên người DTTS hiểu rõ phong tục tập quán các dân tộc nên hiểu được đặc điểm tâm, sinh lí học sinh dân tộc; biết tiếng dân tộc nên dễ hòa đồng với học sinh và biết lựa chọn phương pháp giáo dục phù hợp với học sinh DTTS (dẫn theo [23]).
Tác giả Trương Xuân Cừ, vai trò của đội ngũ GV người DTTS trong trường PTDTNT rất quan trọng và yêu cầu về đội ngũ giáo viên phải là người DTTS, nếu không cũng phải biết tiếng dân tộc, chỉ có như vậy mới đảm bảo thực hiện tốt được nhiệm vụ giáo dục ở trường PTDTNT [11]. Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Khánh Tuấn (2006) “Các biện pháp phát triển đội ngũ giáo viên THCS trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” trong phát triển đội ngũ GV phải đảm bảo tính xã hội hóa, cần có sự tham gia của các lực lượng xã hội vào công tác bồi dưỡng, đào tạo giáo viên; đồng thời phải bảo đảm tính dân chủ hóa để phát huy trí tuệ của mỗi cá nhân trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, tự tu dưỡng để phát triển cá nhân. Tác giả Nguyễn Minh Chi (2011) với nghiên cứu “Giải pháp phát triển đôi ngũ giáo viên cấp THCS trên địa bàn thành phố Hà Tĩnh”. Bài viết đã phân tích thực trạng hầu hết các trường THCS tại địa bàn thành phố Hà Tĩnh còn thiếu quy hoạch cụ thể xây dựng ĐNGV.
Một số giáo viên trẻ năng động, nhiệt tình trong công tác, ý thức tổ chức kỉ luật tốt, có kiến thức cơ bản, song 11 kinh nghiệm chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm hạn chế nên lúng túng khi lên lớp, kiến thức cơ bản còn có chỗ chưa thật chính xác; việc cập nhật, tìm tòi, nghiên cứu thêm tài liệu sách báo chuyên môn thiếu chủ động; phương pháp dạy học, ứng xử sư phạm đôi lúc con chưa phù hợp. Những GV trẻ mới ra trường dự giờ đồng nghiệp còn e ngại, chưa hình thành được kĩ năng thiết kế bài dạy, cũng như kĩ năng lên lớp. Một số giải pháp đề xuất: Các cấp QL cần có giải pháp xây dựng quy hoạch tổng thể về ĐNGV; Đổi mới công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho ĐNGV; Đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá, xếp loại GV theo chuẩn GV trung học; Tăng cường công tác dự giờ, rút kinh nghiệm. Tác giả Cao Nguyên Vũ (2016) với tiêu đề bài báo “Phát triển đội ngũ giáo viên THCS ở thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị đáp ứng chuẩn nghề nghiệp”.
Bài báo nhận định: Sự chênh lệch khá lớn giữa ĐNGV trẻ (độ tuổi dưới 30, thâm niên công tác 1-10 năm) với các đội tuổi còn lại đã có ảnh hưởng khá lớn đến tính kế thừa giữa các thế hệ. Đây là yếu tố cơ sở cho việc hoạch định các chủ trương, kế hoạch phát triển giáo dục THCS của thị xã. Các biện pháp đề xuất là: Nâng cao nhận thức về chuẩn nghề nghiệp, giáo dục ý thức học tập, phấn đấu cho ĐNGV THCS; Xây dựng quy hoạch và tuyển dụng ĐNGV THCS đáp ứng CNN; Đào tạo, bồi dưỡng ĐNGV THCS đáp ứng CNN; Bố trí, sử dụng, luân chuyển ĐNGV; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá ĐNGV THCS theo CNN; xây dựng điều kiện hỗ trợ để phát triển ĐNGV THCS theo CNN. [15] Tác giả Huỳnh Tố Chân (2018) với công trình “Một số biện pháp nâng cao năng lực nghề nghiệp cho đội ngũ giáo viên THCS nhằm đáp ứng yêu cầu của Chương trình GDPT mới”.
Kết quả thu được cho thấy, tuy GV đã có những năng lực cần thiết để đáp ứng với yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nhưng số GV có năng lực đạt yêu cầu chỉ đạt trên dưới 20%; những năng lực đã có nhưng chưa đạt yêu cầu vẫn chiếm tỉ lệ khá cao (trên dưới 60%. Tỉ lệ GV chưa có các năng lực dạy học còn khá cao (nhất là các 12 năng lực về phát triển chương trình (55%); năng lực dạy học theo phương thức trải nghiệm (42,3%); có 40,7% GV chưa có năng lực đổi mới, sáng tạo, cải tiến chất lượng dạy học và năng lực thích ứng với các điều kiện dạy học khác nhau. Từ các nghiên cứu tổng quan có thể rút ra một số nhận xét chung như sau: - Thứ nhất, nghiên cứu về cá thể giáo viên đã giải quyết những vấn đề phát triển năng lực của giáo viên (kiến thức, kĩ năng và thái độ) với nhiều cách tiếp cận khác nhau như: tiếp cận theo chuẩn nghề nghiệp; tiếp cận theo giá trị; tiếp cận theo phẩm chất, đạo đức nghề nghiệp. - Thứ hai, nghiên cứu về phát triển đội ngũ giáo viên, bao gồm các công đoạn quy hoạch, kế hoạch, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, kiểm tra, đánh giá, chế độ chính sách đãi ngộ đối với giáo viên.
- Thứ ba, kết quả nghiên cứu đã khẳng định vị thế, vai trò của giáo viên trong xu thế thời đại, trong thế giới phẳng cần chú ý đến phát triển năng lực cho cá nhân giáo viên; tạo cơ hội để cá nhân giáo viên phát triển năng lực hợp tác, năng lực tổ chức các hoạt động dạy học, năng lực công nghệ thông tin và năng lực phát triển nghề nghiệp. Chưa có nhiều những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên dạy môn KHTN và phát triển đội ngũ giáo viên dạy môn KHTN đáp ứng thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phù hợp với những địa bàn, vùng miền cụ thể. Và đó cũng chính là hướng nghiên cứu của đề tài này. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Giáo viên, đội ngũ giáo viên THCS 1. Giáo viên THCS Theo Luật Giáo dục (2019) thì cho rằng: Giáo viên là những người làm nhiệm vụ giảng dạy, thực hiện giáo dục trong nhà trường và các cơ sở giáo dục. Nhà giáo làm việc ở các cơ sở như giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục nghề nghiệp đều gọi chung là giáo viên.