CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN XÂY LẮP DẦU KHÍ CẤP ĐỊA PHƯƠNG 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dự án và dự án xây lắp dầu khí a. Khái niệm dự án.
Có nhiều cách định nghĩa dự án, tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó. Theo nghĩa chung nhất, dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới. Như vậy, theo định nghĩa này thì: Dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định; Dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới. Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính: Nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn). Nghĩa là, mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định. Dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ. Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.
Sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc dự án khác. Như vậy có thể hiểu, dự án án là một tập hợp những đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể thực hiện nhằm mục tiêu đã đề ra trong khoảng thời gian xác định. Khái niệm dự án xây lắp dầu khí Theo Luật Xây dựng năm 2003 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tại điều 3: “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động 11 của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình xây dựng công cộng, nhà ở, công trình công nghiệp, giao thông, thủy lợi, năng lượng và công trình khác” Công trình xây lắp dầu khí là một nội dung của công trình xây dựng nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương nói chung và phát triển ngành dầu khí nói riêng.
Dự án xây lắp dầu khí trên địa bàn địa phương cung cấp cho xã hội những nhu cầu cơ bản như: thăm dò và khai thác khí đốt, nhà ở, khu công nghiệp, nhà máy nhiệt điện, khách sạn cao cấp, trung tâm thương mại, đường xá, trường học,…. Nên việc tạo ra các sản phẩm xây lắp dầu khí có hiệu quả không những chỉ về mặt kinh tế mà cả về mặt xã hội. Bên cạnh đó là các dự án thăm dò, khai thác, chế biến và phân phối các sản phẩm khí đốt, các công trình đường ống dẫn khí nhằm khai thác một cách có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên khí đốt của quốc gia nhằm phục vụ công cuộc phát triển kinh tế bền vững. Trong các dự án xây lắp dầu khí thì nhóm dự án liên quan tới khai thác khí đốt là nhóm dự án xây lắp dầu khí cơ bản, chiếm tỷ trọng lớn và đòi hỏi cao về mặt kỹ thuật.
Nhóm dự án này tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cũng như phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững. Dự án xây lắp dầu khí là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây lắp trong ngành dầu khí nhằm mục đích phát triển, duy trì và nâng cao chất lượng các công trình xây lắp ngành dầu khí trong khoảng thời gian nhất định. Một dự án xây lắp dầu khí có thể xác định theo nhiều cách. Các dự án có thể là do các bộ ngành hữu quan đề xuất, có thể bắt nguồn từ quá trình xây dựng các kế hoạch kinh tế quốc gia hay các doanh nghiệp tư nhân hoặc Nhà nước cũng có các dự án đòi hỏi Chính phủ phải trợ giúp hoặc phê chuẩn trước khi thực hiện.
12 Các dự án xây lắp dầu khí có những đặc điểm sau đây: - Dự án xây lắp dầu khí gắn liền với đất đai và phải phù hợp với quy hoạch xây dựng. Đối với dự án xây lắp dầu khí, điều cốt yếu là lựa chọn được vị trí khu đất xây dựng, rồi sau mới đến việc thiết kế phương án kiến trúc, thiết kế xây dựng cho phù hợp với vị trí và cảnh quan khu vực xung quanh khu đất. Bên cạnh đó, các dự án xây lắp dầu khí gắn với quy hoạch xây dựng, quy hoạch xây dựng phải đi trước một bước, là tiền đề cho đầu tư xây lắp. Quy hoạch xây dựng là cơ sở cho việc triển khai các hoạt động đầu tư xây lắp, kiểm soát quá trình phát triển đô thị và các khu chức năng, bảo đảm trật tự, kỷ cương trong hoạt động xây lắp, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường.
Quy hoạch xây dựng là căn cứ cho việc hình thành các dự án xây lắp dầu khí và là cơ sở để quản lý đầu tư xây lắp và quản lý trật tự xây dựng. Nếu không có quy hoạch xây dựng thì việc đầu tư xây lắp sẽ không có trọng tâm, trọng điểm hoặc gây ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng xấu đến môi trường nói chung, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, thiếu sự hài hoà trong việc tổ chức không gian và sự đồng bộ trong việc kết nối các công trình hạ tầng kỹ thuật ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế - xã hội. Quy hoạch xây dựng tạo ra động lực phát triển bền vững của vùng, miền; kiểm soát được quá trình đầu tư xây lắp công trình; là căn cứ để xử lý, giải quyết tranh chấp trong hoạt động xây lắp; kiểm soát sự phát triển đô thị, xã hội, môi trường, hạ tầng kỹ thuật đồng bộ. - Quy mô vốn, vật tư, lao động cần thiết cho các dự án xây lắp dầu khí thường rất lớn.
Vốn đầu tư cho hoạt động đầu tư xây lắp lớn nằm khê đọng lâu trong suốt quá trình thực hiện dự án. Quy mô vốn đầu tư lớn nên đòi hỏi chủ đầu tư phải có giải pháp huy động vốn hợp lý, xây dựng kế hoạch đầu tư đúng đắn, quản lý tổng vốn đầu tư, bố trí vốn theo tiến độ thực hiện dự án. Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt là đối với những dự án quan trọng quốc gia. Vì vậy, việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng lao động cần có kế hoạch trước để thực hiện sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ thực hiện dự án, đồng thời hạn chế tới mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực sau khi dự án hoàn thành như: việc bố trí lại lao động, giải quyết lao động dôi dư.
13 - Các thành quả của dự án xây lắp dầu khí là sản phẩm đơn chiếc, thường phát huy tác dụng ở ngay tại nơi nó được xây dựng nên, do đó quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Tính chất của sản phẩm xây lắp có tính đặc thù đơn chiếc, mỗi công trình chỉ được hình thành duy nhất một lần, tại một thời điểm nhất định, với một kinh phí riêng. Mỗi công trình được xây dựng trong những điều kiện khác biệt nhau cả về địa điểm, không gian, thời gian., đồng thời, môi trường luôn thay đổi đã tạo nên tính duy nhất cho mỗi sản phẩm xây dựng. - Các dự án xây lắp dầu khí có độ rủi ro cao.
Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài, thời gian vận hành kết quả đầu tư xây lắp cũng kéo dài. nên mức độ rủi ro của các dự án xây lắp dầu khí thường cao. Rủi ro của các dự án xây lắp dầu khí do nhiều nguyên nhân, bao gồm nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Nguyên nhân chủ quan là nguyên nhân xuất phát từ phía nhà đầu tư như: quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu.
Nguyên nhân khách quan như: giá nguyên vật liệu đầu vào tăng, nhà nước ban hành những chính sách mới làm thay đổi mặt bằng giá đầu tư xây dựng, xuất hiện những yếu tố bất khả kháng (hoả hoạn, lũ lụt.), quy hoạch xây dựng thay đổi, giá bán sản phẩm giảm. Khái niệm quản lý dự án xây lắp dầu khí cấp địa phương. a) Khái niệm quản lý Nhà nước * Khái niệm quản lý Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào đối tượng quản lý bằng hệ thống công cụ, phương tiện, cơ chế khác nhau nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đặt ra, phù hợp với quy luật vận động khách quan của xã hội. Quản lý là một hệ thống bao gồm các yếu tố: đầu vào, đầu ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu; các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau.
Một mặt chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản lý cần giải quyết, mặt khác chúng ảnh hưởng tới hiệu lực và hiệu quả của quản lý. 14 * Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người; duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Quản lý nhà nước là một nội dung trong quản lý xã hội, là quản lý xã hội mang quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của nhà nước.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động được thực hiện chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước nhằm đảm bảo chấp hành pháp luật và các nghị quyết của các cơ quan quyền lực nhà nước để tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội.