MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã xác định mục tiêu: “…đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cƣờng hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nƣớc ta cơ bản trở thành nƣớc công nghiệp theo hƣớng hiện đại”. Để thực hiện mục tiêu đã nêu, một trong những nhiệm vụ chủ yếu đƣợc xác định tại Nghị quyết là: “Phát triển, nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo, chất lƣợng nguồn nhân lực; phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế tri thức”. Trên cơ sở đó, Thủ tƣớng Chính phủ đã có Quyết định 1748/QĐ-TTg ngày 27/9/2013 về việc phê duyệt Đề án xây dựng Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo đại học, nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, tiềm lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Thủ đô Hà Nội và tỉnh Hà Nam, phù hợp với chiến lƣợc phát triển giáo dục, chiến lƣợc khoa học công nghệ, quy hoạch mạng.
Quy mô Khu Đại học Nam Cao tình Hà Nam, cụ thể nhƣ sau: - Đất các Khu chức năng cơ bản (Trƣờng học 282,07ha): 388,04ha - Đất khu ở: 180,98ha - Đất khác (giao thông, hạ tầng KT, đỗ xe): 185,46ha - Đất Khu đô thị mới Tân Hà: 158,07ha - Quy mô đào tạo: 50. - Quy mô dân số: 30.000 ngƣời (bao gồm dân số thuộc Khu đô thị mới Tân Hà trong đó dân số hiện tại 7. Nhƣ vậy, đầu tƣ xây dựng là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình phát triển hệ thống giáo dục cả nƣớc nói chung cũng nhƣ sự phát triển của Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam nói riêng. Với vị trí và tầm quan trọng của lĩnh vực 1 z đầu tƣ xây dựng đối với nền kinh tế quốc dân thì vai trò quản lý nhà nƣớc đối với lĩnh vực này là hết sức to lớn.
Trong bối cảnh nền kinh tế chuyển đổi và đang trong quá trình thực hiện lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế thì vấn đề này càng mang tính cấp bách và cần thiết hơn bao giờ hết. Xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật trong Khu Đại học Nam Cao để đảm bảo thu hút các trƣờng Đại học, cao đẳng về đầu tƣ là rất cần thiết (đƣờng giao thông, điện, nƣớc, viễn thông.đến tận chân hàng rào của các trƣờng) và phù hợp với chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc để di dời một số các cơ sở giáo dục ra khỏi nội thành thành phố Hà Nội. Nhu cầu đầu tƣ xây dựng tại Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam (912,55ha) là rất lớn, nhƣng trên thực tế, quá trình quản lý, chất lƣợng và hiệu quả quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng là rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Tình trạng đó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhƣng chủ yếu là do sự chƣa hoàn thiện cơ cấu tổ chức quản lý, quy trình quản lý chƣa chặt chẽ, tính chuyên nghiệp hoá chƣa cao và chất lƣợng đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý các dự án xây dựng chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu thực tế.
Trong khoảng một thập niên trở lại đây, cùng với xu hƣớng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tƣ xây dựng, công tác quản lý đầu tƣ xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan. Do đó, công tác quản lý dự án đầu tƣ xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng, và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ở nƣớc ta trong thời gian tới. Thực tiễn đó đã thúc đẩy ra đời một “nghề” mới mang tính chuyên nghiệp thực sự: Quản lý dự án, một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp từ các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động tƣ vấn. Trong thời gian qua, các dự án đầu tƣ do Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao làm Chủ đầu tƣ còn tồn tại một số vấn đề nhƣ: tiến độ thực hiện dự án quá chậm, chất lƣợng một số dự án còn chƣa đảm bảo, công tác quản lý chồng chéo chƣa khoa học, một số thủ tục đầu tƣ còn thực hiện chƣa đúng theo quy định.Việc này nguyên nhân cơ bản do những khó khăn, bất cập nhất định trong công tác quản lý nên việc hoàn 2 z thiện công tác quản lý đó là cần thiết, đồng thời sau khi tiếp thu kiến thức từ khóa học nên tôi chọn đề tài "Quản lý các dự án đầu tƣ tại Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam” cho luận văn tốt nghiệp khóa học của mình.
Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý các dự án đầu tƣ tại Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Tổng hợp cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ; - Phân tích đánh giá thực trạng quản lý dự án đầu tƣ tại Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao; - Đề xuất giải pháp nâng cao công tác quản lý các dự án đầu tƣ tại Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao: Đảm bảo sử dụng vốn đầu tƣ hiệu quả và định hƣớng, hoạch định công tác quản lý dự án đầu tƣ trong tƣơng lại. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là công tác quản lý các dự án đầu tƣ tại Ban Quản lý Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu: luận văn chỉ tập trung nghiên cứu công tác quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc và các nguốn vốn khác do Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam làm Chủ đầu tƣ.
Cấu trúc luận văn Ngoài lời nói đầu, mục lục, kết luận chung và danh mục tài liệu tham khảo, luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về quản lý dự án đầu tƣ Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Thực trạng quản lý các dự án đầu tƣ xây dựng tại Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam Chƣơng 4: Giải pháp nâng cao công tác quản lý các dự án đầu tƣ tại Ban quản lý Khu Đại học Nam Cao tỉnh Hà Nam 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƢ TẠI CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Quản lý dự án đầu tƣ để thực hiện công tác đầu tƣ dự án và lựa chọn cho quá trình đầu tƣ dự án đƣợc chính xác, quản lý dự án là hoạt động quan trọng trong quá trình hình thành và thực hiện dự án, là công cụ thực hiện và ra quyết định đầu tƣ phù hợp. Có nhiều chủ thể tham gia và ảnh hƣởng tới quá trình quản lý dự án đầu tƣ nhƣ: các doanh nghiệp với vai trò là chủ đầu tƣ, nhà nƣớc mà đại diện là các cơ quan quản lý nhà nƣớc, các ngân hàng, các tổ chức tài chính tín dụng, các tổ chức tƣ vấn.Nghiên cứu về công tác quản lý dự án đầu tƣ đã có các công trình nghiên cứu và lý luận theo nhiều chủ đề cũng nhƣ các quá trình hoạt động quản lý dự án đầu tƣ. Tuy nhiên, phạm vi và mức độ nghiên cứu tập trung chủ yếu ở việc xem xét, bàn luận về các kỹ thuật phân tích đánh giá dự án, ở nội dung tài chính và ở tầm vĩ mô quản lý nhƣ: - Hoàng Đỗ Quyên (2008), Luận văn thạc sỹ kinh tế (Đại học Kinh tế quốc dân), “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc”.
Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc, đƣa ra những lý luận cơ bản về quản lý dự án, phân tích thực trạng và đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án tại Ban quản lý dự án Công trình điện Miền Bắc. Đề tài tập trung chủ yếu vào việc công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các dự án thuộc phạm vi quản lý của Ban quản lý dự án. - Trần Thị Hồng Vân (2005), Luận văn thạc sỹ kinh tế (Đại học Kinh tế quốc dân), “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư của Đài tiếng nói Việt Nam”. Đề tài đề cập đến việc hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tƣ của đài tiếng nói Việt Nam, đã đƣa ra các cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp hoàn thiện về công tác quản lý dự án tại Đài tiếng nói Việt Nam.
Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu của đề 4 z tài là về công tác quản lý dự án đầu tƣ tại một đơn vị sử dụng vốn ngân sách nhà nƣớc trong lĩnh vực thông tin - truyền thông. Đề tài tập trung chủ yếu vào việc phân tích công tác quản lý dự án trong giai đoạn thực hiện dự án tại các nhóm dự án do các đơn vị trực thuộc của Đài tiếng nói Việt Nam làm chủ đầu tƣ. - Luận án Phó Tiến sỹ khoa học Kinh tế “Hoàn thiện cơ chế quản lý nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Đức từ Trƣờng đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, bảo vệ năm 1994.