CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong bất kì giai đoạn nào, dù ở hoàn cảnh nào Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo con người. Trong toàn bộ di sản tư tưởng giáo dục của Người, vấn đề cơ bản nhất là vấn đề xây dựng và hoàn thiện con người thông qua hoạt động giáo dục và tự giáo dục. Người đã dạy:“ Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”.
Lời dạy của Bác đã trở thành thông điệp cốt lõi của chiến lược phát triển giáo dục, chiến lược phát triển con người của đất nước. Từ năm 1945, ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, Bác Hồ đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chỉ đạo xây dựng đội ngũ GV phục vụ sự nghiệp giáo dục. Người chỉ rõ: “vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được một đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu, chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thực sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”[35] Bác Hồ rất coi trọng vấn đề bồi dưỡng và tự bồi dưỡng. Người chỉ rõ: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” và “các thầy cô giáo phải là kiểu mẫu về mọi mặt, tư tưởng, đạo đức, lối làm việc”.
Trước lúc đi xa, Bác Hồ kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân bản “Di chúc" lịch sử, gởi gắm cho chúng ta và các thế hệ mai sau. Trong “Di chúc", Bác dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người". “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết". Theo Người, thế hệ kế tục sự nghiệp sẽ là thế hệ quyết định sự thành công của cách mạng xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta.
Trong bức thư cuối cùng của người gửi cho ngành giáo dục, sau những lời chúc mừng thăm hỏi Bác đã dạy: “Dù khó khǎn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt… phải phấn đấu nâng cao chất lượng vǎn hoá và chuyên 7 skkn môn”. Và một lần nữa Bác khẳng định“Nhiệm vụ của các thầy cô giáo là rất quan trọng rất vẻ vang.” Trong sự nghiệp giáo dục, nếu không quan tâm bồi dưỡng GV thì không thể đáp ứng được yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quá trình phát triển đất nước. Có thể khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh về “trồng người” là nền tảng lý luận vững chắc cho sự nghiệp phát triển giáo dục, trong đó có công tác bồi dưỡng GV. Ở những thập kỷ 80, 90 của thế kỷ XX; đã có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận giáo dục, lý luận dạy học; xuất hiện ngày càng nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí, tập san, báo ngành.
Trong giai đoạn này có một số tác giả đề cập đến như: Phạm Minh Hạc (1986, Một số vấn đề về Giáo dục và Khoa học giáo dục); Nguyễn Kỳ (1987, Mấy vấn đề về quản lý giáo dục, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục, số 34). Năm 1996, đề tài khoa học cấp Nhà nước có mã số KX 07-04: “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” đã bàn sâu về vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực, trong đó có đề cập đến vấn đề bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ GV. Năm 1997, ấn phẩm “Tự học, tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam” ra đời, có nhiều bài viết khá sâu sắc của các tác giả tên tuổi như: cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Trần Bá Hoành, Vũ Văn Tảo. Năm 1999, trong tạp chí Phát triển Giáo dục, số 1, Phạm Quang Huân có bài “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng của GV trường phổ thông”.
Gần đây, năm 2006, nhà xuất bản Đại học sư phạm xuất bản cuốn sách “Vấn đề GV, những nghiên cứu lý luận và thực tiễn” của tác giả Trần Bá Hoành. Nhiều công trình nghiên cứu đã để lại những bài học quý giá về xây dựng, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ”của tác giả Bùi Văn Quân; “ Con đường nâng cao chất lượng cải cách các cơ sở đào tạo giáo viên”của tác giả Nguyễn Thị Phương Hoa (2002); “Cẩm nang nâng cao năng 8 skkn lực và phẩm chất đội ngũ giáo viên” của nhóm tác giả Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh, Đinh Thị Kim Thoa (2007), v. Trong các nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thi Mỹ Lộc (2004, Nghề và nghiệp của người giáo viên); Nguyễn Hữu Châu (2008, Chất lượng giáo dục - những vấn đề lí luận và thực tiễn); Phạm Hồng Quang (2009, Giải pháp đào tạo giáo viên theo định hướng năng lực).đã đưa ra vai trò của người GV hiện nay đã có những sự thay đổi để phù hợp với các chức năng của người giáo viên rộng hơn, đồng thời chứng minh được năng lực giáo viên chính là yếu tố cơ bản quyết định chất lượng giáo dục. Một trong những việc quan trọng nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ giáo viên là công tác kiểm định, đánh giá chất lượng GV, về vấn đề này các tác giả: Nguyễn Ngọc Quang, Hà Sỹ Hồ, Đặng Quốc Bảo đã nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lý hoạt động dạy - học, từ đó chỉ rõ một số biện pháp quản lý nhà trường.
Một trong số các biện pháp hữu hiệu để duy trì, điều chỉnh hoạt động của hệ quản lý đi đúng mục tiêu, kế hoạch đó là các biện pháp kiểm tra, thanh tra, đánh giá kết quả công việc trong từng giai đoạn nhất định. Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện của giáo dục phổ thông, thực hiện mục tiêu chuẩn hóa và từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ GV THPT; quản lý đội ngũ giáo viên nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp là một yêu cầu không thể thiếu nhằm giúp GV đổi mới phương pháp giảng dạy và khắc phục những điểm yếu của mình. Những tài liệu đã dẫn viết về giáo dục, bồi dưỡng GV và công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá trong giáo dục của các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục là những tư liệu quý, thiết thực giúp chúng tôi tham khảo trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý đội ngũ giáo viên trường THPT Trưng Vương, tỉnh Hưng Yên theo Chuẩn nghề nghiệp” 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 1.
Quản lý và các khái niệm liên quan đến vấn đề quản lý 1. Quản lý 9 skkn QL xuất hiện, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Đây là một trong những loại hình lao động lâu đời và quan trọng nhất của con người, là công vệc cần thiết trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, có tính chất quyết định đến sự phát triển của toàn xã hội. Song chỉ những năm gần đây người ta mới thừa nhận tính chất khoa học của nó và QL mới được coi là một ngành khoa học theo đúng nghĩa.
Bất kì một tổ chức, một tập thể nào cũng đều có yếu tố QL trong đó và điều đó quyết định tới hiệu quả hoạt động của tổ chức theo mục tiêu đề ra. Hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về QL tùy theo quan điểm và cách tiếp cận. Có người cho rằng QL là sự chỉ huy, lãnh đạo, sự cai quản, sự điều khiển, điều chỉnh… Tuy nhiên có thể nêu lên một số quan điểm có tính chất cốt lõi của một số tác giả như sau: K.Marx cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng” [26].
Như vậy bản chất của QL là một hoạt động lao động có tính tất yếu, vô cùng quan trọng trong quá trình lao động, phát triển của loài người. Henry Fayol (1841 – 1925) nhấn mạnh: QL là một hệ thống phát huy tác dụng có tính chất độc lập không thể thay thế. Theo ông: “quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra” [28, tr.17] Mary ParKer Follett (1868 - 1933) nổi tiếng với thuyết hành vi trong quản lý cho rằng: “Quản lý là một quá trình lao động, liên tục, kế tiếp nhau chứ không tĩnh tại” [28, tr. Các tác giả Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học QL và thể hiện nhiều quan điểm về vấn đề này như sau: 10 skkn Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng “Quản lý là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước” [40, tr.
Theo các tác giả Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ thì: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [38, tr. Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì hoạt động quản lý là: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [27 ]. Còn tác giả Đặng Quốc Bảo thì khẳng định : Bản chất của hoạt động QL nhằm làm cho hệ thống vận hành theo mục tiêu đặt ra và tiến đến các trạng thái có tính chất lượng mới”.
Quản lý = Quản + Lý Trong đó : - Quản là chăm sóc, giữ gìn sự ổn định. - Lý là sửa sang, sắp xếp, đổi mới phát triển. Hệ ổn định mà không phát triển thì tất yếu dẫn đến suy thoái. Hệ phát triển mà không ổn định tất yếu dẫn đến rối ren.