Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CỦA SỞ XÂY DỰNG LẠNG SƠN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP KHAI THÁC VÀ CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG THÔNG THƯỜNG 1.Khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Khái quát về khoáng sản và hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. * Khoảng sản làm VLXDTT. Trong địa chất học, khoáng sản được định nghĩa là các đá hoặc tập hợp kháng vật tự nhiên trong vỏ trái đất, tạo thành do các quá trình địa chất xác định, mà từ đó con người có thể lấy kim loại, các hợp chất hay các khoáng vật để sử dụng trong nền kinh tế quốc dân.
Dưới góc độ pháp luật, Luật Khoáng sản năm 2010 có quy định: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ”. Cũng có định nghĩa, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt đất, bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của mỏ. Tóm lại, khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tụ tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng, trên mặt đất. Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, là tài sản quan trọng của quốc gia.
Giá trị to lớn của khoáng sản cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình khảo sát, thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản tất yếu dẫn tới Nhà nước quản lý khoáng sản bằng pháp luật. Khoáng sản làm VLXDTT là các loại khoáng sản được quy định tại Khoản 1 Điều 64 của Luật Khoáng sản năm 2010, bao gồm: - Cát các loại (trừ cát trắng silic) có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không có hoặc có các khoáng vật cansiterit, volframit, monazit, ziricon, ilmenit, vàng đi kèm 11 nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ TN&MT. - Đất sét làm gạch, ngói theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam, các loại sét (trừ sét bentonit, sét kaolin) không đủ tiêu chuẩn sản xuất gốm xây dựng, vật liệu chịu lửa samot, xi măng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam. - Đá cát kết, đá quarzit có hàm lượng SiO2 nhỏ hơn 85%, không chứa hoặc có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ TN&MT hoặc không đủ tiêu chuẩn làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam.
- Đá trầm tích các loại (trừ diatomit, bentonit, đá chứa keramzit), đá magma (trừ đá syenit nephelin, bazan dạng cột hoặc dạng bọt), đá biến chất (trừ đá phiến mica giàu vermiculit) không chứa hoặc có chứa các khoáng vật kim loại, kim loại tự sinh, đá quý, đá bán quý và các nguyên tố xạ, hiếm nhưng không đạt chỉ tiêu tính trữ lượng theo quy định của Bộ TN&MT, không đủ tiêu chuẩn làm đá ốp lát, đá mỹ nghệ, nguyên liệu kỹ thuật felspat sản xuất sản phẩm gốm xây dựng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam. - Đá phiến các loại, trừ đá phiến lợp, đá phiến cháy và đá phiến có chứa khoáng vật serixit, disten hoặc silimanit có hàm lượng lớn hơn 30%. - Cuội, sỏi, sạn không chứa vàng, platin, đá quý và đá bán quý; đá ong không chứa kim loại tự sinh hoặc khoáng vật kim loại. - Đá vôi, sét vôi, đá hoa (trừ nhũ đá vôi, đá vôi trắng và đá hoa trắng) không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất xi măng pooc lăng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam hoặc không đủ tiêu chuẩn làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam.
- Đá dolomit có hàm lượng MgO nhỏ hơn 15%, đá dolomit không đủ tiêu chuẩn sản xuất thủy tinh xây dựng, làm nguyên liệu sản xuất đá ốp lát, đá mỹ nghệ theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật Việt Nam. * Hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản làm VLXDTT. Ở Việt Nam, khai thác khoáng sản là một khái niệm đã được luật hóa. Theo Luật khoáng sản năm 2010, khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi 12 khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan.
Khai thác khoáng sản là hoạt động được tiến hành sau khi đã có giấy phép khai thác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được tính từ khi mỏ bắt đầu xây dựng cơ bản (hay còn gọi là mở mỏ) cho đến khi mỏ kết thúc khai thác (đóng của mỏ - phục hồi môi trường). Trước đây, trong thời kỳ bao cấp, hoạt động khai thác khoáng sản chủ yếu do các tổng công ty, doanh nghiệp Nhà nước thực hiện tại các mỏ đã được tìm kiếm, thăm dò bằng nguồn vốn của Nhà nước như apatit, quặng sắt, than, đá vôi, sét làm nguyên liệu sản xuất xi măng. với số lượng nhỏ. Sau năm 1996, khi Luật Khoáng sản được ban hành, hoạt động khai thác khoáng sản đã phát triển nhanh cả về quy mô và thành phần kinh tế tham gia.
Hoạt động chế biến khoáng sản được quy định tại Khoản 3 Điều 3 Thông tư 41/2012/TT-BCT quy định về xuất khẩu khoáng sản do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành cụ thể như sau:Chế biến khoáng sản là quá trình sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp các phương pháp cơ - lý-hóa để làm biến tính khoáng sản nguyên khai nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm dưới dạng: tinh quặng, kim loại, hợp kim, hợp chất hóa học, khoáng chất công nghiệp có quy cách, tính chất phù hợp yêu cầu sử dụng, có giá trị sử dụng và giá trị thương mại cao hơn khoáng sản nguyên khai. Hoạt động chế biến khoáng sản được cũng được đề cập tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 05/2018/TT-BXD về hướng dẫn xuất khẩu khoáng sản làm VLXD do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành, có hiệu lực từ 15/8/2018, chế biến khoáng sản được quy định như sau: Chế biến khoáng sản là quá trình sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp các phương pháp cơ - lý - hóa để làm thay đổi tính chất của khoáng sản sau khi khai thác nhằm tạo ra các sản phẩm có quy cách, chỉ tiêu kỹ thuật phù hợp với yêu cầu sử dụng và có giá trị thương mại cao hơn khoáng sản sau khai thác. Như vậy về cơ bản có thể khái quát: Khai thác và chế biến khoáng sản làm VLXDTT là hoạt động thu hồi và làm biến tính khoáng sản nguyên khai của các tổ 13 chức, cá nhân được cấp phép khai thác và chế biến khoáng sản để tạo ra những sản phẩm VLXD thông dụng đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước. Đặc điểm của hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường.
Đặc điểm của khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường. Khai thác khoáng sản làm VLXDTT có những đặc điểm cơ bản như sau: - Là hoạt động thường được tiến hành trên quy mô rộng lớn, khối lượng khai thác nhiều, thời gian khai thác lâu dài và thường sử dụng nhiều phương tiện, công cụ hỗ trợ đặc biệt (như thuốc nổ). Điều đó cho thấy: một là, hoạt động khai thác khoáng sản làm VLXDTT phải được tiến hành bởi những tổ chức, cán nhân có đủ năng lực về tài chính, nhân lực,.; hai là, hoạt động khai thác khoáng sản làm VLXDTT có ảnh hưởng không nhỏ tới các thành phần như: đất, nước, không khí, cảnh quan thiên nhiên, hệ sinh thái tại và xung quanh khu vực khai thác. - Là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Khai thác khoáng sản làm VLXDTT là ngành nghề có nhiều nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. Trong những năm gần đây, sau khi Bộ Luật Lao động được ban hành, cùng với các Luật khoáng sản, Luật bảo vệ môi trường và các Quy chuẩn kỹ thuật an toàn trong khai thác mỏ, trật tự khai thác, bảo vệ tài nguyên khoáng sản đã từng bước được thiết lập, hạn chế dần các hoạt động khai thác trái phép khoáng sản, gây mất an toàn lao động, phá hoại môi trường. Tuy nhiên, tình hình tai nạn lao động trong khai thác mỏ vẫn diễn biến khó lường. Nguy cơ ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng gia tăng, làm nhiều người bị bệnh nghề nghiệp, đặc biệt là bệnh bụi phổi nghề nghiệp.
Môi trường đó không chỉ ảnh hưởng trong phạm vi mỏ mà còn đang tác động không nhỏ đến bộ phận rất lớn người dân sinh sống trong khu vực có hoạt động khai thác. - Là hoạt động đòi hỏi trình độ công nghệ và chất lượng lao động cao. Trước đây, khi mà trình độ công nghệ còn thủ công thì ngành công nghiệp khai thác khoáng sản làm VLXDTT cần nhiều lao động phổ thông. Các xí nghệp khai thác chỉ cần mua thể lực chứ không cần đến tri thức của người lao động.
Tuy nhiên hiện nay, 14 khi trình độ công nghệ được cơ giới hoá.Trong khai thác cần ít lao động hơn nhưng đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn cao, biết vận hành và bảo dưỡng máy móc thiết bị. Đặc điểm của chế biến khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường Hoạt động chế biến khoáng sản làm VLXDTT cũng có những đặc điểm giống với hoạt động khai thác như: quy mô thường lớn, đòi hỏi công nghệ cao, chất lượng lao động tốt, và cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro về môi trường nếu như các tổ chức, cá nhân chế biến khoáng sản không có ý thức bảo vệ môi trường, cũng như hoạt động quản lý của chính quyền địa phương không triệt để. Bên cạnh đó, hoạt động chế biến khoáng sản làm VLXDTT cũng có những đặc điểm riêng như: hoạt động này phần lớn được thực hiện đồng thời với hoạt động khai thác khoáng sản làm VLXDTT. Các loại khoáng sản phổ biến có hoạt động chế biến đi liền với hoạt động khai thác như: sét gạch ngói, đá vôi, đá sét nguyên liệu xi măng.
Hầu hết sản phẩm của hoạt động chế biến khoáng sản là nguyên liệu đầu vào cho hoạt động chế biến VLXD.Thực hiện chủ trương hạn chế xuất khẩu khoáng sản dạng nguyên liệu thô, thời gian gần đây các doanh nghiệp trong nước đã quan tâm đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sâu khoáng sản, nhiều dự án chế biến sâu khoáng sản đã và đang được triển khai xây dựng hoặc đã hoạt động.