Chương 1] Để được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cần phải đảm bảo các tiêu chí được quy định tại điều 28, chương IV, Luật di sản Văn hóa: 12 1. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước. Công trình xây dựng địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của Anh hùng dân tộc, danh nhân đất nước. Công trình xây dựng địa điềm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của thời kỳ cách mạng kháng chiến.
Quần thể các Công trình kiên trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử. Theo Luật Di sản Văn hóa, di tích lịch sử - Văn hóa được phân loại theo những đặc điểm như sau: 1. Các loại hình di tích: Loại hình di tích lịch sử, loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật, loại hình di tích khảo cổ học, loại hình di tích danh lam thắng cảnh. Phân loại xếp hạng di tích: Di tích quốc gia đặc biệt, di tích quốc gia, di tích cấp tinh.
Dựa vào hình thức quản lý, di tích được chia thành 3 loại: Di tích do Nhà nước trực tiếp quản lý, di tích do cộng đồng dân cư (dưới hình thức tập thể) trực tiếp quản lý, di tích do cá nhân, cộng đồng quản lý. Theo điều kiện khai thác của di tích thì di tích được phân thành 2 loại: Di tích có khả năng khai thác, di tích chưa có khả năng khai thác. Di tích kiến trúc nghệ thuật: là những công trình kiến trúc có giá trị điển hình về kiến trúc nghệ thuật, được xây dựng phục vụ nhu cầu cấu trúc hoặc là nơi tổ chức các hoạt động kinh tế, văn hóa, chính trị, quân sự… Khái niệm Quản lý: Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định; “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Có nhiều cách nhìn khác nhau về khái niệm quản lý: 13 Theo Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo.
Theo Haror Kooiìu, quản lý là một hoạt động thiết yếu đảm bảo sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu tổ chức nhất định. Theo Mariparker Fọlit» (1868 - 1933), nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ thì: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”. Khi bàn đến hoạt động quản lý và người quản lý cần khởi đầu từ khái niệm “tổ chức’’. Do tính đa nghĩa của thuật ngữ này nên ở đây Luận văn chỉ nói đến tổ chức như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung nào đó mà để đạt được mục đích gì đó mà một con người riêng lẻ không thể đạt đến.
Một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích. Từ đó, tác giả Luận văn có thể đưa ra quan niệm về quản lý như sau: Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý để chỉ huy, điều khiến, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hòa hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý.
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao. 14 Theo Giáo trình “Quản lý hành chính Nhà nước” của Học viện Hành chính Quốc gia ghi rõ: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý định của người quản lý” [tr. Cũng theo giáo trình này, hoạt động quán lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý; Chủ thể luôn là con người hoặc tổ chức, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với những phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định.
Đối tượng quản lý: Tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Khách thể quản lý: Chịu sự tác động hay điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là hành vi của con người hoặc quá trình xã hội. Mục tiêu của quản lý: Là cái đích phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước.
Đây là căn cứ để chủ thể quản lý thực hiện các động tác quản lý cũng như lựa chọn các phương pháp quản lý thích hợp. Quản lý ra đời chính là hướng đến hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc [tr. Từ những khái niệm đã nêu ra trên cho thấy: quản lý là một hoạt động cần thiết trong bối cảnh xã hội nói chung, trong lĩnh vực DTLS-VH nói riêng thì vấn đề đặt ra trong lịch sử cũng như hiện nay và trong tương lai luôn là việc làm cần thiết trong tiến trình bảo tôn DTLS của dân tộc. Quán lý di tích lịch sử - văn hóa Di tích LS - VH là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa dân tộc, vì vậy có thể hiểu: Quản lý DTLS - VH là sự định hướng, tạo điều kiện của tổ chức điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các DTLS - VH, làm cho giá trị của di 15 tích phát huy theo chiều hướng tích cực.
Việc quản lý di tích được thực hiện bởi các chủ thể quản lý (cơ quan quản lý, cộng đồng có di tích.) tác động bằng nhiều cách thức khác nhau đến đối tượng quản lý là các di tích, nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và tinh thần cho cộng đồng dân cư. Nội dung quản lý di tích lịch sử - văn hóa Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH được quy định tại Điều 54 và 55 của Luật Di sản văn hóa, được sửa đổi bổ sung năm 2009 cụ thể như sau: Điều 54: Nội dung quản lý Nhà nước về DSVH bao gồm: Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa; Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về di sản văn hóa; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức, chỉ đạo khen thưởng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tổ chức và quản lý hợp tác quốc tế về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hoá; Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về Di sản văn hóa [7, tr. Điều 55: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về di sản văn hóa: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; 16 Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý Nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý Nhà nước về di sản văn hóa; Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý Nhà nước về Di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ [32, tr.
Đối tượng quản lý của Nhà nước về di tích đã được cụ thể hóa trong Luật Di sản như sau: Chương IV, Mục 1, Điều 28 sửa đổi bổ sung: Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: 1. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương. Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu.
Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật. Chương IV, Mục 1, Điều 29 được sửa đổi, bổ sung: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm: Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm 17 vi địa phương; Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương; Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương.