Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN KHOA HỌC TỰ NHIÊN LỚP 6 Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC KHOA HỌC TỰ NHIÊN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những công trình nghiên cứu về dạy học môn Khoa học tự nhiên Vấn đề dạy học cũng như dạy học các môn KHTN được nhiều nhà khoa học nghiên cứu và vận dụng trong quá trình giáo dục. Trên thế giới, cùng với xu thế phát triển dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện thì nghiên cứu về dạy học môn KHTN lớp 6 cũng như các môn KHTN, như: Vật lý, Hóa học, Sinh học,… tiếp cận nghiên cứu theo hướng phát triển năng lực được cũng được quan tâm luận chứng ở những khía cạnh khác nhau, khá phong phú, đa dạng.Marzano trong cuốn “The Art and Science of teaching” cho rằng: Kết quả của quá trình dạy học phụ thuộc nhiều yếu tố, trong đó hoạt động dạy học của giáo viên là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp.Marzano đã phê phán quan điểm dạy học các môn KHTN áp dụng một phương pháp dạy học cho mọi đối tượng học sinh.
Theo tác giả Robert J.Marzano, dạy học các môn khoa học, như Vật lý, Sinh học, Hóa học,… theo định hướng phát triển năng lực học sinh đòi hỏi giáo viên lấy khả năng sáng tạo của học sinh làm mục tiêu. Tác giả Dierick và Dochi, cho rằng: Dạy học các môn KHTN theo định hướng phát triển năng lực cần quan tâm tới khâu đánh giá trên lớp học; thực hiện đa dạng hình thức đánh giá để phát huy tính tích cực học tập của học sinh. Tiếp cận năng lực trong giáo dục nói chung, dạy học các môn khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh học,…. nói riêng là một trong những xu hướng được hình thành, phát triển vào thập niên 70 của thế kỷ XX và trở thành một phong 7 trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Mỹ,Úc, Anh, New Zealand,.
Do nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ của nó. Trong đó, nguyên nhân trực tiếp là do nhiều học giả coi tiếp cận năng lực là phương thức nhằm cân bằng giữa quá trình giáo dục (theo nghĩa rộng) với quá trình dạy học (theo nghĩa hẹp), đó là “cách thức nhằm chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế vừa hợp tác, vừa cạnh tranh trên phạm vi toàn cầu” và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI” [61, tr. Đặc trưng chủ yếu và ưu thế của dạy học các môn khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh học,… được tiếp cận từ phát triển năng lực,theo J.Rodger là “tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì học sinh dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được” [63]. John Dewey - nhà giáo dục Mỹ, đã phê phán cách thức tổ chức dạy học các môn KHTN theo lối áp đặt.
Cách thức tổ chức dạy học như vậy đã triệt tiêu động lực tìm hiểu tự nhiên, khám phá khoa học, phát triển các kỹ năng của học sinh.Dewey cho rằng: việc dạy học nói chung cũng như dạy học các môn KHTN, như môn khoa học Vật lý, Hóa học, Sinh học,… nói riêng lấy học sinh làm trung tâm dựa trên 02 nguyên tắc cơ bản là thực hiện tính liên tục của kiến thức và những sự tác động trở lại của các thành viên.Cousinet (1881 - 1973) - nhà giáo dục Pháp cho rằng: Khi tổ chức dạy học các môn khoa học, đặc biệt là các môn KHTN phải tạo cho học sinh khả năng tự tìm hiểu khoa học, vận dụng kiến thức, kỹ năng KHTN vào giải quyết những vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, học tập; tạo cho học sinh quen làm việc không cần kiểm soát của giáo viên; khắc phục được tình trạng lười suy nghĩ của học sinh. Kế thừa kết quả nghiên cứu của Rick Sullivan, Noel McIntosh về “Cách tiếp cận giáo dục dựa trên năng lực”, tác giả Thomas Deissinger và Slike 8 Hellwig (2011) phát triển sâu hơn ở: “Cấu trúc và chức năng của dạy học các môn KHTN dựa trên năng lực” [63]. Các tác giả chỉ ra sự khác biệt giữa chương trình truyền thống và các chương trình CBET, là giáo viên có vai trò hỗ trợ và hướng dẫn người học bằng cách cung cấp điều kiện học tập phù hợp và thực hiện tốt quy trình đánh giá kết quả học tập [63, tr. Ở một góc khác, Thomas Armstrong (2011) nghiên cứu “Đa trí tuệ trong lớp học” [63], tác giả tiếp tục phát triển kết quả nghiên cứu thuyết “Đa trí tuệ” [61] của Howard Gardner (1999) và cụ thể hoá năng lực học sinh thành 8 dạng trí tuệ cơ bản là trí tuệ ngôn ngữ; lôgíc - toán học; không gian; hình thể, động năng; âm nhạc; giao tiếp; nội tâm và tự nhiên học.
Tác giả Thomas cho rằng, mọi người đều có đầy đủ các trí tuệ đó. Tuy nhiên, sự phát triển là không đồng đều ở tất cả mọi người. Vì vậy, tổ chức dạy học các môn khoa học, trong đó có các môn học Vật lý, Hóa học, Sinh học theo hướng tăng cường các hoạt động thực tiễn để kích thích sự phát triển trí tuệ của học sinh [64, tr. Nghiên cứu chuyên sâu về dạy học cũng như quản lý hoạt động dạy học các môn KHTN, như môn Vật lý, Hóa học, Sinh học và một số môn KHTN khác, tác giả Dennis Goosdrum cho rằng: việc định hướng dạy học và hoạt động tổ chức dạy học giúp người học lĩnh hội cũng như vận dụng kiến thức KHTN, những thuật ngữ, những thông số khoa học là vô cùng quan trọng và cần được nghiên cứu lâu dài, trên nhiều bình diện của vấn đề [65].
Ở Việt Nam, trước nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT nói chung và thực hiện Chương trình GDPT cấp THCS nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề về tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực. Có thể kể đến: Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Sĩ Thu (2014) [2]; Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016) [56]; Nguyễn Văn Hồng (chủ biên), Nguyễn Thị Thúy Hà (2020) [29]; Mai Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Khánh, Đặng Thị Oanh, Lê Đức Ánh, Trần Khánh Văn (2019) [53]; Nguyễn Thị Diễn Hằng (2018) [30]; 9 Nguyễn Thị Hà (2020) [28]; Đinh Thị Hà (2020) [27]; Hà Thị Thuý, Đào Văn Toàn (2021) [52]; Nguyễn Văn Biên - Mai Văn Hưng - Trần Trung Ninh (Đồng chủ biên) (2021) [4]; Nguyễn Văn Biên (Chủ biên) - Đỗ Thị Huỳnh Mai - Lê Thị Phượng (2021) [3], … Trong đó, tác giả tác giả Lê Đình Trung, Phan Thị Thanh Hội (2016) đã trình bày các vấn đề: cấu trúc, nội dung chương trình, phương pháp và quy trình dạy học các môn khoa học, trong đó có các môn KHTN theo năng lực. Đặc biệt, tác giả đã xác định những vấn đề mang tính định hướng trong đổi mới phương pháp dạy học môn KHTN lớp 6 trong Chương trình GDPT theo định hướng phát triển năng lực; chỉ ra biện pháp hình thành, phát triển năng lực của học sinh, như: vận dụng các phương pháp dạy học tích cực, các kỹ thuật dạy học tích cực [55]. Nguyễn Văn Biên - Mai Văn Hưng - Trần Trung Ninh [4] đã trình bày sự cần thiết, tầm quan trọng, nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng năng lực tự học môn KHTN 6 (Theo Chương trình GDPT mới), nhằm phát triển năng lực chuyên biệt cho học sinh; giúp cho học sinh thuận tiện trong việc tự học, tự tìm tòi khám phá mở rộng kiến thức.
Nội dung định hướng phát triển năng lực KHTN bao gồm: nhận thức, tìm hiểu và vận dụng kiến thức KHTN [4]. Nguyễn Văn Biên (Chủ biên) - Đỗ Thị Huỳnh Mai - Lê Thị Phượng (2021) [3], nội dung sách được chia thành 3 phần. Phần thứ nhất - Nội dung trọng tâm. Toàn bộ chương trình KHTN lớp 6 học kỳ 1 được chia thành 9 chuyên đề với 17 bài học, kèm theo hệ thống bài đánh giá kết quả học tập ở mỗi chủ đề.
Phần thứ hai - Đề kiểm tra. Hệ thống đề kiểm tra giữa học kỳ 1 và đề kiểm tra cuối học kỳ 1 với hình thức và nội dung đề bám sát chương trình học, giúp các em hệ thống hóa kiến thức thức, rèn kỹ năng làm đề. Phần thứ ba - Đáp án. Đối với bài Đánh giá kết quả học tập cuối mỗi chủ đề có thêm thang điểm cụ thể và thiết kế theo dạng phiếu tự đánh giá kết quả học tập.
Những công trình nghiên cứu về quản lý dạy học môn Khoa học tự nhiên Trong lịch sử cũng như hiện nay, tất cả các hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Hoạt động quản lý ngày càng trở nên phổ biến và diễn ra ở mọi lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực giáo dục. Trên thế giới, quản lý trở thành một khoa học, nghệ thuật và được xem như một nghề trong xã hội. Vì thế, lý luận về quản lý được nhiều nhà nghiên cứu bàn luận, ngày càng đa dạng, phong phú và phát triển.
Trong lịch sử, bàn về quản lý nói chung, quản lý xã hội nói riêng, F.Taylor quan niệm rằng: quản lý là sự biết rõ, chính xác những điều bạn muốn người khác làm; đồng thời, sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc như thế nào và bằng phương pháp nào tốt nhất.Taylo không chỉ đưa ra khái niệm, vai trò, nội dung, chủ thể, đối tượng quản lý mà còn khái quát hóa các nguyên tắc quản lý, đó là: (1), Nhà quản lý phải lựa chọn nhân viên bảo đảm tính khoa học, cho học hành để họ phát triển hết khả năng của bản thân; (2), Nhà quản lý phải am hiểu khoa học KHTN, khoa học xã hội và nhân văn,… Cũng tiếp cận theo hướng này, Harold Koont cho rằng: “Quản lý là một trong những hoạt động không thể thiếu, là thiết yếu; quản lý đảm bảo phối hợp các nỗ lực cá nhân để đạt được mục đích của nhóm. Với tư cách thực hành, quản lý là một nghệ thuật; còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [61, tr.Saxerđôtôp cũng đã nghiên cứu sâu sắc về quản lý nhà trường. Trong cuốn sách “Các vấn đề cốt yếu về quản lý” của Harld - Kôntz, Nxb khoa học kỹ thuật 1992; V.A Xukhomlinxki(1974), “Một số kinh nghiệm lãnh đạo của Hiệu trưởng trường phổ thông” (Hoàng Tân Sơn lược dịch), Cục đào tạo và bồi dưỡng, Bộ GD&ĐT) đã bàn đến những tình huống quản lý nhà trường, quản lý quá trình dạy học trong các trường trung học phổ thông.