CHƯƠNG 1. NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA GIÁO VIÊN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu lý luận Khoa học về Đánh giá trong giáo dục ra đời muộn hơn các ngành khoa học khác nhưng ngày càng phát triển nhanh và mạnh mẽ trên toàn cầu, nhiều lý thuyết mới, hiện đại ra đời, phát triển, đặc biệt là công nghệ đánh giá phát triển nhanh chóng trong kỷ nghuyên số hiện nay.
Khoa học về Đánh giá đã trở thành một môn học được ggiảng dạy tại các trường đại học ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Từ năm 2016, nhiều trường đại học sư phạm tại Việt Nam đã bắt đầu giảng dạy môn học về Đánh giá giáo dục như một phần bắt buộc trong chương trình đào tạo. Điều này đã mở đường cho việc nghiên cứu và giảng dạy về đánh giá giáo dục ở cả trình độ Thạc sỹ và Tiến sỹ. Có thể coi Ralph Tyler là một trong những người tiên phong đưa ra khái niệm về đánh giá giáo dục.
Ông sử dụng thuật ngữ "đánh giá" để chỉ quy trình đánh giá sự tiến bộ của người học dưới góc độ các mục tiêu đạt được. Ông đã tạo nên nền tảng cho việc tư duy và thực hiện đánh giá trong thời điểm đó. Ông xem xét khả năng người học đạt được các mục tiêu chương trình. Ông cũng đã đề xuất một biểu đồ hợp lý, góp phần tạo nên một bước tiến quan trọng cho các lý thuyết đánh giá trong tương lai, trở thành nền tảng của lý thuyết Đánh giá theo mục tiêu giáo dục [36].
Phát triển lý thuyết Đánh giá theo mục tiêu giáo dục của Tyler, Benjamin S. Bloom cùng đồng nghiệp tiến hành phân loại các mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức trong cuốn sách “ Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục: Lĩnh vực nhận thức” ra đời 1956, như một hướng dẫn quan trọng trong việc phân loại mục tiêu giáo dục để xây dựng quá trình đánh giá giáo dục, và đến tận ngày nay, nó vẫn giữ vai trò quan trọng [2]. Hiện nay, trên toàn thế giới, lĩnh vực khoa học đánh giá giáo dục đang phát triển mạnh mẽ, đặc biệt ở Hoa Kỳ và các quốc gia thuộc khối OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế). Có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về Đánh giá 6 giáo dục về các vấn đề như: Thuật ngữ; khái niệm; công cụ; cách thức; quy trình; vận dụng vào các môn học, lĩnh vực cụ thể.
Các tài liệu như: “Educational Assessment of Students” của Anthony J. Cuốn tài liệu này là giáo trình giảng dạy cho các trường đại học của Mỹ và cũng đã được Giáo sư Anthony J. Nitko sử dụng làm tài liệu tập huấn đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá năng lực người học cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục tại Việt Nam những năm 2004 đến 2008. Cuốn tài liệu của Benjamin S.
Thomas Hastings “Evaluation to Improve Learning” [60], cuốn “Formative Assessment and Science Education” của Beverley Belll và Bronwen Cowie [61] hoặc cuốn tài liệu của Herbert J Walberg, Geneva D Haertel “The International Encyclopedia of Educational Evaluation” [64]. Các cuốn tài liệu này đã viết rất sâu về các phương pháp, kỹ thuật đánh giá năng lực người học, kỹ thuật xây dựng đề kiểm tra, kỹ thuật viết câu hỏi trắc nghiệm và tự luận, các cách thức đánh giá thường xuyên trên lớp học. Đặc biệt, một số cuốn sách hướng dẫn giáo viên sử dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học, đánh giá thường xuyên trên lớp học, như: “A teacher’s Guide to Assessment” của D.G Macintosh [63], cuốn “Workbook for Evaluation – A Systematic Approach” của Howard E. Rossi and Gary D.
Công nghệ đánh giá giáo dục ngày càng phát triển nhanh chóng, rất nhiều phần mềm chuyên dụng phục vụ lĩnh vực đo lường, đánh giá giáo dục ra đời, hỗ trợ các nhà chuyên môn, nhà nghiên cứu và giáo viên trong việc đánh giá trên lớp học và đánh giá diện rộng. Cuốn tài liệu của Lincoln L.Chao: “Statistical Methods and Analyse”[68], cuốn tài liệu của Matthew B. Michael Huberman “Quanlitative Data Analysis – A Sourcebook of New Methods” [70] bàn luận rất sâu rộng về các phương pháp đánh giá bằng định lượng và định tính, cách sử dụng các phương pháp, kỹ thuật đo lường đánh giá trong giáo dục. Khoa học đánh giá là một lĩnh vực mới mẻ đối với giới nghiên cứu và giáo viên Việt Nam.
Ở Việt Nam, khoa học đánh giá giáo dục thực sự được quan tâm 7 nghiên cứu có thể tính từ những năm 70 của thế kỷ 20, tuy nhiên, phải sang đến những năm 90, khoa học đánh giá mới bắt đầu có các công trình nghiên cứ bài bản, kho học ở cấp quốc gia, từ đó, bắt đầu phát triển phương pháp, kỹ thuật đánh giá diện rộng và đánh giá trên lớp học tiến hành cùng với công cuộc đổi mới chương trình, sách giáo khoa vào những năm 2000. Những người nghiên cứu đầu tiên một các công phu về vấn đề đánh giá giáo dục phải kể đến là GS.TS Hoàng Đức Nhuận và PGS.TS Lê Đức Phúc, các ông đã thực hiện công trình nghiên cứu khoa học công nghệ cấp Nhà nước và cho ra đời cuốn sách “Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông” [43]. Công trình nghiên cứu này được coi là đã đặt nền móng cho các khái niệm, thuật ngữ, các yêu cầu về nội dung và kỹ thuật đánh giá ở Việt Nam. Các tài liệu khác như cuốn "Đánh giá trong giáo dục," của Trần Bá Hoành 38]; "Kiểm tra - đánh giá trong dạy – học đại học" của Đặng Bá Lãm [42]; quyển giáo trình "Đo lường – đánh giá kết quả học tập của học sinh" của Nguyễn Đức Chính [28] và cuốn “Đánh giá và đo lường trong khoa học xã hội: Quy trình, kỹ thuật thiết kế, thích nghi, chuẩn hóa công cụ đo” của Nguyễn Công Khanh [41] .v đã cung cấp kiến thức cơ bản về đánh giá giáo dục.
Tiếp theo đó, khi khoa học đo lường đánh giá giáo dục phát triển trên thế giới, các tài liệu của GS.TS Lâm Quang Thiệp như "Trắc Nghiệm và Ứng Dụng" [51] và "Đo lường trong giáo dục, lý thuyết và ứng dụng" [50] ra đời có tính ứng dụng, giúp các nhà nghiên cứu, các học viên cao học, nghiên cứu sinh và sinh viên có thể tham khảo, học tập và ứng dụng trong các công trình nghiên cứu và học tập của mình. Việc xây dựng phần mềm VITESTA theo IRT để phân tích kết quả đánh giá của GS. Lâm Quang Thiệp được ghi nhận như một bước tiến về phát triển phần mềm, công cụ đo lường đánh giáo giáo dục tại Việt Nam. Ngoài ra, có nhiều luận án nghiên cứu sinh đề cập đến quy trình, kỹ thuật đánh giá giáo dục và xây dựng đề kiểm tra, như luận án của Đặng Huỳnh Mai, Trịnh Thị Hồng Hà, Nguyễn Thị Hồng Vân, Lê Thị Mỹ Hà và các tác giả khác.
Tuy nhiên, cho đến nay, rất ít tài liệu nghiên cứu đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên. Từ khi Chương trình GDPT 2018 bắt đầu xây dựng và triển khai giảng dạy tại trường phổ thông, một số tài liệu như “Dạy học theo hướng hình thành và phát 8 triển năng lực người học ở trường phổ thông” của Lê Đình Trung (chủ biên) và Phan Thị Thanh Hội 54], cuốn “Hướng dẫn dạy học môn khoa học tự nhiên theo Chương trình giáo dục phổ thông mới” của Mai Sĩ Tuấn, Nguyễn Văn Khánh, Đặng Thị Oanh, Lê Đức Ánh, Trần Khánh Vân [52] đã bàn luận khá sâu về các phương pháp dạy học phát triển năng lực người học đáp ứng Chương trình GDPT 2018 cũng như dạy học môn KHTN theo Chương trình GDPT 2018 rất hữu ích với đề tài nghiên cứu của luận văn. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có đề tài luận văn thạc sỹ, nghiên cứu sinh hoặc công trình nghiên cứu nào về Đánh giá hoạt động dạy học môn KHTN cấp THCS của giáo viên theo Chương trình GDPT 2018. Nghiên cứu đánh giá thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên Đánh giá hoạt động dạy học của giáo viên trong ngành giáo dục ngày càng được chú trọng và đầu tư.
Chính vì tầm quan trọng của giáo viên với vai trò dạy học ngày càng được quan tâm nghiên cứu sâu rộng trên toàn cầu, OECD đã xây dựng một Chương trình đánh giá quốc tế về Dạy và Học mang tên Teaching and Learning International Survey, gọi tắt là TALIS. TALIS là Chương trình đánh giá quốc tế việc Dạy và Học trong nhà trường phổ thông, được OECD nghiên cứu và xây dựng một cách bài bản, khoa học. TALIS thực hiện theo chu kỳ đánh giá 5 năm/lần, kỳ đầu tiên của TALIS là 2008. Đối tượng đánh giá chính của TALIS là Hiệu trưởng và Giáo viên cấp THCS, ngoài ra, TALIS mở rộng đánh giá Hiệu trưởng và Giáo viên ở cấp Tiểu học, THPT và ở các trường tham gia khảo sát Chương trình đánh giá học sinh quốc tế, gọi tắt là PISA (PISA – link) - các nước lựa chọn tham gia và đóng thêm lệ phí.
TALIS nghiên cứu đánh giá đội ngũ giáo viên để đưa ra góc nhìn sâu hơn vào niềm tin và thái độ về việc giảng dạy mà giáo viên mang tới lớp học và các phương pháp thực hành sư phạm mà họ áp dụng. TALIS còn nghiên cứu về các yếu tố khác nhau có liên quan đến cảm xúc của giáo viên về sự hài lòng công việc và sự tự tin vào bản thân. Thông qua việc tham dự TALIS, các quốc gia sẽ tìm thấy các phương hướng, biện pháp để bồi dưỡng cho đội ngũ Hiệu trưởng và Giáo viên những năng lực đáp ứng các yêu cầu ngày càng đa dạng trong trường học hiện nay. 9 Ngoài ra, TALIS còn kết nối với PISA xây dựng nên hệ thống dữ liệu đầy đủ về nhà trường, giáo viên và học sinh để tạo một bức tranh tổng thể về chất lượng giáo dục phổ thông ở mỗi quốc gia.
Việc tham gia PISA và TALIS sẽ tạo ra sự nhất quán cao, phối hợp chặt chẽ giữa TALIS và PISA và sẽ giúp tăng cường hiệu quả cho cả hai chương trình này. Các nguồn dữ liệu bổ trợ nhau sẽ nâng cao chất lượng dữ liệu, tạo ra các góc nhìn chính sách hoàn chỉnh và sâu sắc hơn, hoàn thiện bức tranh của nền giáo dục và khuyến khích các hoạt động giáo dục của các quốc gia tham gia. Chính những yếu tố này đã làm nên sức hấp dẫn của TALIS và độ tin cậy cao của TALIS, cũng như những giá trị khoa học mà TALIS mang lại cho các quốc gia.