mở đầu và kết luận, luận văn bao gồ m các chƣơng: Chƣơng 1: Tổ ng quan tin ̀ h hin ̀ h nghiên cƣ́u và cơ sở lý luâ ̣n , thƣ̣c tiễn về quản lý Nhà nƣớc đối với đất nông nghiệp Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cƣ́u Chƣơng 3: Thƣ̣c tra ̣ng quản lý Nhà nƣ ớc đối với đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Chƣơng 4: Giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nƣớc đối với đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam trong thời gian tới 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Tổ ng quan tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, đã có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về quản lý và sử dụng đất nông nghiệp nhƣ: Nghiêm Trung Kiên, 2013, Đánh giá công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố phủ lý, tỉnh hà nam giai đoạn 2008-2012”; Luận văn thạc sỹ quản lý đất đai, trƣờng Đại học Nông nghiệp đã nghiên cứu và đánh giá tác động của công tác quản lý đất đai trên địa bàn thành phố Phủ Lý giai đoạn 2008 -2012, từ đó đƣa ra những giải pháp nhằm tăng cƣờng hiệu quả quản lý cũng nhƣ sử dụng đất của địa phƣơng; Phan Thế Mỹ, 2011, Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam, Luận văn thạc sỹ quản lý đất đai - trƣờng Đại học Nông nghiệp phân tích rõ những yếu tố tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đồng thời trình bày thực trạng sử dụng đất nông nghiệp một các cụ thể. Lê Duy Thụ và Trần Quốc Khánh, 2012, Hoàn thiện quản lý nhà nước về đất nông nghiệp ở Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trên thế giới và một số địa phương ở nước ta, Tạp chí KT&PT Số 177 (II), trang 7-11 đã phân tích đặc trƣng về quản lý đất nông nghiệp ở một số nƣớc trên thế giới và một số địa phƣơng ở nƣớc ta, đúc rút những bài học về quản lý đất nông nghiệp của đất nƣớc trong thời kỳ đổi mới công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về nông nghiệp – Nguồn: tapchitaichinh.vn đã nêu lên vai trò của Nhà nƣớc trong quản lý nông nghiệp, những hạn chế trong quá trình quản lý và định hƣớng một số giải pháp để góp phần nâng cao vị thế của ngành sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tế quốc gia.
4 z Nguyễn Sinh Cúc,2014, Quản lý và sử dụng đất nông nghiệp theo Luật Đất đai 2013 - Hội Thống kê Việt Nam - Tạp chí Lý luận chính trị số 6 đề cập đến thực trạng và những vấn đề đặt ra khi Luật đất đai 2003 đƣợc đƣa vào thi hành, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò quản lý của Nhà nƣớc trong quản lý và sử dụng đất nông nghiệp. Bùi Tuấn Anh, Nguyễn Đình Bồng, Đỗ Thị Tám, 2013, Một số yếu tố tác động đến quản lý sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 11, số 5 nêu lên thực trạng quản lý sử dụng đất nông nghiệp đặc thù trên địa bàn thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội, phân tích các yếu tố tác động đến quá trình quản lý sử dụng đất nông nghiệp. Phạm Văn Phê (Chủ biên),2006, Giáo trình Sinh thái môi trƣờng làm rõ một số khái niệm liên quan đến đất nông nghiệp cũng nhƣ các yếu tố hình thành nên đất nông nghiệp. Tài liệu Thống kê, kiểm kê diện tích đất đai, diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, Nguồn Phòng Tài nguyên – Môi trƣờng thành phố Phủ Lý cung cấp các số liệu cụ thể từ năm 2010 đến năm 2013 về diện tích các loại đất, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn.
Luận văn đã tham khảo Luật đất đai các năm 1993, 2003, 2013 và những văn bản hƣớng dẫn thi hành làm rõ thêm về nội dung quản lý đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng; Ngoài ra, Luận văn còn tham khảo một số bài viết trên các website, các trang báo mạng nhằm thu thập những thông tin đa chiều, phong phú về vấn đề quản lý đất nông nghiệp, bổ sung vào luận văn những cách nhìn nhận mới mẻ, phù hợp với xu thế thời đại. Hầu hết các công trình nghiên cứu cũng nhƣ các bài báo khoa học và các luận văn nói trên đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích để học viên có thể nghiên cứu, tham khảo; song chƣa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề Quản lý nhà nước đối với đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Do đó, đề tài nghiên cứu làm luận văn thạc sĩ của học viên không trùng lặp với các công trình đã công bố. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với đất nông nghiệp 1.
Những lý luận chung về đất nông nghiệp 1.Khái niệm về đất nông nghiệp Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp. Việc phân loại tiêu chuẩn theo FAO - Tổ chức Nông lƣơng của Liên Hiệp Quốc thì phân chia đất nông nghiệp vào các thành phần sau đây: - Đất canh tác nhƣ đất trồng cây hàng năm, chẳng hạn nhƣ ngũ cốc, bông, khoai tây, rau, dƣa hấu, loại hình này cũng bao gồm cả đất sử dụng đƣợc trong nông nghiệp nhƣng tạm thời bỏ hoang (đất hoang hóa, đất thoái hóa). - Vƣờn cây ăn trái và những vƣờn nho hay cánh đồng nho (thông dụng ở Châu Âu).
- Đất trồng cây lâu năm (ví dụ nhƣ trồng cây ăn quả). - Cánh đồng, thửa ruộng và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc. Tùy thuộc vào việc sử dụng hệ thống tƣới tiêu nhân tạo, đất nông nghiệp đƣợc chia thành đất có tƣới tiêu và không tƣới tiêu (thƣờng xuyên). Ở các nƣớc đang khô hạn và bán khô hạn đất nông nghiệp thƣờng đƣợc giới hạn trong phạm vi đất tƣới tiêu.
Đất nông nghiệp cấu thành chỉ là một phần của lãnh thổ của bất kỳ quốc gia, trong đó ngoài cũng bao gồm các khu vực không thích hợp cho nông nghiệp, chẳng hạn nhƣ rừng, núi, và các vùng nƣớc nội địa. Đất nông nghiệp bao gồm 38% diện tích đất của thế giới, với diện tích đất trồng đại diện cho ít hơn một phần ba đất nông nghiệp (11% diện tích đất của thế giới). Căn cứ vào Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 thì đất đai đƣợc chia làm 3 loại cơ bản là nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chƣa sử dụng gồm các loại đất chƣa xác định mục đích sử dụng. Theo đó thì đất nông nghiệp đƣợc định nghĩa là “đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng”.[13] Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: 6 z a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác đƣợc pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ƣơm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh; Theo quan niệm truyền thống của ngƣời Việt Nam thì đất nông nghiệp thƣờng đƣợc hiểu là đất trồng lúa, trồng cây hoa màu nhƣ: ngô, khoai, sắn và những loại cây đƣợc coi là lƣơng thực.
Tuy nhiên, trên thực tế việc sử dụng đất nông nghiệp tƣơng đối phong phú, không chỉ đơn thuần là để trồng lúa, hoa màu mà còn dùng vào mục đích chăn nuôi gia súc, nuôi trồng thủy sản hay để trồng các cây lâu năm… Trƣớc đây, Luật đất đai năm 1993 quy định về đất nông nghiệp tại Điều 42 nhƣ sau: “Đất nông nghiệp là đất đƣợc xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.” Với quy định của Luật đất đai năm 1993, đất đai của Việt Nam đƣợc chia thành sáu loại: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất khu dân cƣ nông thôn, đất đô thị, đất chƣa sử dụng. Theo sự phân loại này đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp đƣợc tách riêng thành hai loại đất nằm trong sáu loại đất thuộc vốn đất quốc gia và đƣợc định nghĩa theo Điều 42 và Điều 43 của Luật đất đai năm 1993. Tuy nhiên, sự phân loại này dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau, vừa căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, vừa căn cứ vào địa bàn sử dụng đất đã dẫn đến sự đan 7 z xen, chồng chéo giữa các loại đất, không có sự tách bạch về mặt pháp lý gây khó khăn cho công tác quản lý đất đai. Để khắc phục những hạn chế đó, cũng nhƣ tạo điều kiện thuận lợi cho ngƣời sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất.
Luật đất đai năm 2013 đã chia đất đai thành ba loại với tiêu chí phân loại duy nhất là căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu: nhóm đất nông nghiệp, nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chƣa sử dụng. Nhƣ vậy, chúng ta đã mở rộng khái niệm đất nông nghiệp với tên gọi “nhóm đất nông nghiệp” thay cho “đất nông nghiệp” trƣớc đây. Theo quy định Luật đất đai năm 2013 mới đƣợc ban hành thì có thể hiểu nhóm đất nông nghiệp là tổng thể các loại đất có đặc tính sử dụng giống nhau, với tƣ cách là tƣ liệu sản xuất chủ yếu phục vụ cho mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, trồng rừng, khoanh nuôi tu bổ bảo vệ rừng, nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp.