CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOÀI CÔNG LẬP DỰA VÀO ICT 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đào tạo và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ Trên thế giới, đào tạo theo học chế tín chỉ được coi là một cuộc cách mạng trong giảng dạy đại học, đã được chuẩn bị và tích lũy âm thầm trong suốt thời kỳ cận hiện đại. Sau nhiều nghiên cứu và thử nghiệm, năm 1872 Viện Đại học Harvard đã thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi sinh viên có thể lựa chọn.
Đây là chương trình đào tạo mới mẻ và hiệu quả, có sức hấp dẫn và lan tỏa nhanh chóng khắp toàn cầu. Bắt đầu từ vùng Bắc Mỹ, tiếp sau đó nhiều nước trên thế giới thuộc Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun, Trung Quốc. Đào tạo theo học chế tín chỉ trở thành xu thế mang tính thời đại, làm thay đổi nội dung, phương pháp, Hình thức, quy trình đào tạo, nâng cao hiệu quả và chất lượng đào tạo trong hệ thống các trường đại học đại học. Phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ với triết lý tập trung hướng vào sinh viên đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nhà lý luận.
Trong các công trình nghiên cứu, các nhà khoa học đều đi tìm bản chất của tín chỉ, su thế của phương thức đào tạo này để thay đổi từ nhận thức đến hành động về giảng dạy đào tạo bậc cao. Hệ thống tín chỉ trong đào tạo đầu tiên được phát triển bởi Viện Đại học Harvard, Mỹ vào năm 1872. Đến đầu thế kỷ XX hệ thống tín chỉ được áp dụng rộng trong hầu hết các trường đại học ở Mỹ. Tiếp sau đó hệ thống này được các nước ở Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, Ấn Độ và nhiều nước khác lần lượt áp dụng.
Năm 1999 Bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở 29 nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Bologna nhằm Hình thành “Không gian 9 Giáo dục đại học Châu Âu” và triển khai áp dụng học chế tín chỉ trong toàn bộ hệ thống này [. Cùng với sự phát triển của đào tạo theo học chế tín chỉ, nhiều công trình nghiên cứu về học chế tín chỉ đã được công bố. Trong phạm vi bao quát của luận án, có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ và các luận giải về đào tạo theo học chế tín chỉ, trong đó có một số các tác giả và quan niệm tiêu biểu: Năm 1995, học giả James Quann đã trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ: “Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một sinh viên bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài”. Bàn về những bất cập của đào tạo theo học chế tín chỉ, James Heffernan, (1973) viết trong tài liệu “The Credits of the Credit Hour: The history, Use and Shortcomings of the Credits System”[15], tác giả bàn về giờ tín chỉ: lịch sử, sử dụng và bất cập của hệ thống tín chỉ đang được sử dụng trong các nước đang phát triển.
Từ phân tích các nguyên nhân làm xuất hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, Jesica M. Shedd bước đầu phân tích mô hình quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ, đó là quản lý mục tiêu, nội dung và chương trình đào tạo. Shedd xác định đây là khâu quyết định chất lượng quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ [91]. Mặc dù vậy, nhiều vấn đề còn bỏ ngỏ: vai trò của giảng viên, tính chủ dộng tích cực của sinh viên, môi trường đào tạo, các biện pháp quản lý công nghệ thông tin trong đào tạo theo học chế tín chỉ… chưa được nghiên cứu.
Đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam được triển khai chưa lâu và trên thực tế cũng chưa nhiều công trình khoa học tổng kết về quy trình đào tạo theo học chế tín chỉ. Tuy nhiên, vấn đề đào tạo theo học chế tín chỉ với những biến đổi sâu sắc trong mục tiêu, chương trình, chuẩn đầu vào và đầu ra của quy trình đào tạo đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học Việt Nam. 10 Nhiều tham luận, công trình nghiên cứu cùng nhiều nguồn tài liệu tham khảo trong nước, trong đó có những công trình tiêu biểu: Luận án TS của tác giả Bùi Thị Thu Hương [39] về “Quản lý chất lượng chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao tại Đại học Quốc gia Hà Nội theo tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể” đã nghiên cứu hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quản lý chất lượng CTĐT nói chung, quản lý chất lượng theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể nói riêng đối với QTĐT hệ cử nhân chất lượng cao tại các trường ĐH; Cụ thể hóa nội dung và quy trình theo cách tiếp cận này cho quản lý nhằm đào tạo một đội ngũ nhân lực chất lượng cao, phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay; Đề xuất một số biện pháp vận dụng một số đặc trưng cơ bản của quản lý chất lượng tổng thể vào quản lý chất lượng CTĐT hệ cử nhân chất lượng cao, đồng thời khuyến nghị với các cơ quan quản lý về đào tạo cơ chế và chính sách phù hợp để trường ĐH có thể từng bước đưa triết lý quản lý chất lượng tổng thể vào quản lý chất lượng CTĐT của trường mình. Đặc biệt, luận án TS của tác giả Cấn Thị Thanh Hương “Nghiên cứu quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong giáo dục đại học ở Việt Nam” [37] đã có những đóng góp mới: Góp phần làm sáng tỏ những lý luận cơ bản về KT-ĐG kết quả học tập và vận dụng khoa học quản lý vào quản lý KT-ĐG kết quả học tập trong GDĐH; Đánh giá thực trạng quản lý KTĐG kết quả học tập trong GDĐH và chỉ ra những yêu cầu phát triển của xã hội, của GDĐH đối với quản lý KT-ĐG kết quả học tập; Đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động KT-ĐG kết quả học tập ở bậc ĐH có tính khả thi và phù hợp với thực tiễn GDĐH Việt Nam đầu thế kỷ XXI.
Các trường đại học và đại học Việt Nam đã tổ chức nhiều hội thảo khoa học về Đào tạo theo học chế tín chỉ, nhận thức và kinh nghiệm triển khai tại các trường đại học và đại học Việt Nam. Một số thực tiễn và bài học kinh nghiệm của các trường đã và đang chuyển sang học chế tín chỉ cũng được các nhà quản lý và giảng viên chia sẻ trong hội thảo …Nghiên cứu về giảng dạy 11 Đại học, Đại học nói chung và học chế tín chỉ nói riêng, các ưu nhược điểm, điều kiện triển khai và đào tạo theo học chế tín chỉ ở nước ta, việc áp dụng hệ thống tín chỉ trong các trường Đại học và Đại học ở Việt Nam đã được Lâm Quang Thiệp đề cập tới trong nhiều công trình nghiên cứu, Kỷ yếu Hội thảo khoa học, Đại học Huế (2006 - 2009) [58, 59, 60]. Những nghiên cứu về quy trình triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ, cơ cấu lại chương trình đào tạo để chuyển từ đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học và đại học ở Việt Nam hiện nay đã được nhà khoa học Lê Doãn Đãi trình bày trong báo cáo về học chế tín chỉ của Ban Quản lý đào tạo, ĐHQG Hà Nội (2006) [41]. Trong hội thảo Đào tạo theo tín chỉ do trường đại học Huflit tổ chức năm 2006, tác giả Nguyễn Kim Dung có bài Đào tạo theo hệ thống tín chỉ: kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt Nam trình bày một số kinh nghiệm của thế giới trong việc xây dựng và phát triển hệ thống đào tạo theo học chế tín chỉ.
Các mô hình chuyển đổi tín chỉ cũng được giới thiệu kèm theo các chức năng và ưu điểm của chúng. Sau đó, các kinh nghiệm của Việt Nam trong việc áp dụng chuyển đổi tín chỉ trong đào tạo và các ưu khuyết điểm của các hệ thống này được tổng kết và phân tích dưới góc nhìn của nhà nghiên cứu đã lý giải nhiều vấn đề thuộc cơ sở lý luận của đào tạo theo học chế tín chỉ và quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ. Các tiêu chí này quyết định đặc trưng cụ thể của các hệ thống tín chỉ khác nhau trong những khoá học gần giống nhau giữa các nước trên thế giới. Liên quan đến quản lý đào tạo, các nhà lý luận mới chỉ quan tâm đến triết lý cơ bản, đặc điểm, lợi ích của đào tạo theo học chế tín chỉ so với niên chế.
Khi phân tích tiến trình phát triển của đào tạo theo học chế tín chỉ, một số nhà khoa học đã đề cập đến quản lý đào tạo theo học chế tín chỉ. Các nghiên cứu về biện pháp QLĐT theo HTTC cũng được nhiều tác giả công bố. Tác giả Nguyễn Văn Nhã đã có bài viết “Các biện pháp triển khai phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Đại học Quốc Gia Hà Nội” [42], đưa ra các biện pháp để nâng cao CLĐT trong học chế tín chỉ. Tác giả Nguyễn 12 Quang Giao cũng quan tâm đến vấn đề này và đã công bố nghiên cứu “Một số biện pháp cơ bản nâng cao CLĐT của các trường ĐH hiện nay” [46].
Nhà quản lý GDĐH Vinh, Phạm Minh Hùng nhấn mạnh vai trò đổi mới các biện pháp quản lý trong bài “Đổi mới công tác quản lý đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở các trường Đại học” [43] đã nêu các đặc trưng của phương thức ĐT theo HTTC và đề ra yêu cầu cần đổi mới mạnh mẽ công tác QLĐT ở một số lĩnh vực. Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Hữu Hoan [44] về “Quản lý và đánh giá chương trình môn học trình độ ĐH trong HCTC” đã nghiên cứu một cách có hệ thống và làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về chương trình giảng dạy, chương trình môn học. Luận án đã đề xuất mẫu cấu trúc chương trình môn học, bộ tiêu chí đánh giá chương trình môn học.