Chương 1 của Bộ Luật Lao động năm 2012 quy định: “Người LĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng LĐ, làm việc theo hợp đồng LĐ, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động” [20]. Thực tế trong từng thời kỳ và ở mỗi một nước trên thế giới quy định độ tuổi LĐ khác nhau. Ở Việt nam, độ tuổi LĐ được quy định đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi, đối với nữ từ 15 tuổi đến 55 tuổi. Xét về khía cạnh việc làm, lực lượng LĐ gồm hai bộ phận là có việc làm và thất nghiệp.
Khái niệm nông thôn Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, “nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường 15 tự nhiên, hoàn cảnh KT-XH, điều kiện sống khác biệt với thành thị và cư dân chủ yêu làm nông nghiệp”. [14] Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lượng dân cư nông thôn thấp hơn so với thành thị. Ý kiến khác lại cho rằng, dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị. Như vậy khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và tiến trình phát triển của KT-XH của các quốc gia trên thế giới.
Khái niệm lao động nông thôn Lao động nông thôn là những người thuộc lực lượng LĐ và HĐ trong hệ thống kinh tế nông thôn. Lao động nông thôn là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuổi từ 15 trở lên, HĐ sản xuất ở nông thôn. Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tố về thể chất, tâm sinh lý trong độ tuổi LĐ theo quy định của Luật LĐ và những người ngoài độ tuổi LĐ có khả năng tham gia sản xuất, trong một thời gian nhất định họ hoàn thành công việc với kết quả đạt được một cách tốt nhất. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Từ khái niệm về ĐTN và khái niệm LĐNT như đã trình bày ở trên, tác giả đưa ra khái niệm về ĐTN cho LĐNT như sau: “ĐTN cho LĐNT là hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người LĐ ở khu vực nông thôn, từ đó tạo ra năng lực cho người LĐ đó có thể thực hiện thành công nghề đã được ĐT”.
Như vậy, từ khái niệm trên ta có thể hiểu chi tiết về ĐTN cho LĐNT trên các khía cạnh sau: 16 - Về đối tượng ĐTN: là những người LĐ từ 15 tuổi trở lên sinh sống ở các vùng nông thôn; có thể họ là người mới học xong THCS hoặc THPT chưa có việc làm; có thể họ đang tham gia LĐ sản xuất nông nghiệp trên diện tích canh tác được giao khoán, thuê khoán sản phẩm; chăn nuôi theo mô hình trang trại, gia trại; hoặc là những người đang tham gia sản xuất trong các lĩnh vực phi nông nghiệp ngay trên quê hương như nghề truyền thống hay nghề mới được tiếp thu về địa phương… - Về mục đích ĐTN: đối với những người mới học xong chương trình phổ thông, có thể giúp họ định hướng nghề nghiệp trong tương lai, trang bị cho họ những kiến thức, kỹ năng, kỹ sảo cơ bản của một nghề để họ tìm việc làm; nâng cao tay nghề, trang bị cho người LĐ phông lý thuyết để những người LĐ đang làm việc nhưng chưa qua ĐT có được kiến thức cơ bản, có được chứng chỉ đã qua ĐTN, đồng thời để họ vững tin với vị trí họ đang làm hoặc có thể giúp họ tìm được việc làm mới tốt hơn. - Về người truyền đạt kiến thức: khá đa dạng và phong phú, có thể là những GV dạy lý thuyết tại các cơ sở GDNN, các giảng viên thực hành được tuyển chọn ngoài cơ sở GDNN như những kỹ sư, công nhân lành nghề, thợ bậc cao, các nghệ nhân, nông dân sản xuất giỏi… - Về phương thức giảng dạy: tùy theo từng nghề, từng đối tượng và khả năng tiếp thu kiến thức mà có phương thức ĐTN một cách linh hoạt như ĐT tại cơ sở ĐTN, ĐT ngay tại địa phương nơi HV sinh sống và làm việc, ĐT tại cơ sở sản xuất hoặc ngay trên đồng ruộng. Nội dung, chương trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn Chương trình ĐT phải thể hiện được mục tiêu ĐT các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng của người học sau khi tốt nghiệp; phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức ĐT; cách 17 thức và đánh giá kết quả học tập đối với từng mô-đun, tín chỉ, môn học, từng chuyên ngành hoặc từng nghề và từng trình độ. Chương trình ĐT phải đảm bảo tính khoa học, hiện đại, hệ thống, thực tiễn, linh hoạt đáp ứng sự thay đổi của thị trường lao động; phân bổ hợp lý thời gian giữa các khối lượng kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp; đảm bảo việc liên thông giữa các trình độ GDNN với các trình độ ĐT khác trong hệ thống GD quốc dân.
Chương trình ĐT cần phải được cập nhật, bổ sung cho phù hợp với kỹ thuật công nghệ trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. Hình thức, phương pháp đào tạo nghề cho lao động nông thôn - Về hình thức: ĐTN cho LĐNT được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như dạy tại các cơ sở, trung tâm GDNN; ĐT theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, công ty, tập đoàn; ĐT lưu động tại các xã, thôn; tại các doanh nghiệp và các cơ sở SXKD, dịch vụ; ĐT gắn với các vùng chuyên canh, làng nghề; ĐTN có thể thông qua hình thức dạy nghề hoặc truyền nghề; ĐTN mới, ĐT lại và bồi dưỡng nâng cao tay nghề; xét theo thời gian có ĐTN ở trình độ cao đẳng, trung cấp hay sơ cấp. - Về phương pháp: đa dạng hóa phương pháp ĐTN và phù hợp với từng nhóm đối tượng, từng vùng miền như ĐT tập trung tại các cơ sở, trung tâm GDNN đối với người nông dân chuyển đổi nghề nghiệp; ĐTN trực tiếp cho nông dân tại các làng, xã, thôn; ĐTN tại nơi sản xuất, tại hiện trường nơi người LĐ làm việc. Cơ sở vật chất - thiết bị đào tạo Hệ thống cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo (CSVC-TBĐT) là những điều kiện rất cần phục vụ cho việc dạy và học nghề.
Dạy nghề là rèn luyện kỹ năng cho người LĐ, để đạt được kỹ năng đó cần phải có phương pháp dạy học mới, trực quan, dễ hiểu. Vì vậy, CSVC-TBĐT đòi hỏi phải đồng bộ, hiện đại và dễ 18 sử dụng. Vật tư, vật liệu phục vụ cho việc học, thực hành, thực tập trong ĐTN là điều kiện không thể thiếu. Rèn luyện tay nghề nhiều, tiếp xúc với TBĐT hiện đại thì sau khi tốt nghiệp, người học mới bắt kịp trang bị công nghệ của nhà máy, xí nghiệp.
Nếu số lượng vật tư, TBĐT cần thiết cho việc dạy và học không đảm bảo thì HV sẽ ít có cơ hội thực hành; CSVC-TBĐT nghèo nàn, lạc hậu, không theo kiệp tiến độ kỹ thuật, sự phát triển của XH thì chất lượng ĐT không thể được nâng cao. Kết quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho LĐNT là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, của các cấp, các ngành và XH nhằm nâng cao chất lượng LĐNT, đáp ứng yêu cầu CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nghị Quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết 24/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết 26-NQ/TW đã xác định ĐTN cho LĐNT là bộ phận cấu thành và là giải pháp về phát triển nhân lực để thực hiện xây dựng nông thôn mới. Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009, thực hiện trong 11 năm (2010-2020) với mục tiêu: Dạy nghề cho khoảng 11 triệu lao động nông thôn, trong đó, hỗ trợ ĐT trình độ sơ cấp, ĐT dưới 3 tháng cho 6,54 triệu người, thí điểm các mô hình ĐTN cho LĐNT với khoảng 18.000 người, đặt hàng dạy nghề cho khoảng 512 nghìn lao động nông thôn thuộc diện hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, LĐNT bị thu hồi đất canh tác có khó khăn về kinh tế.
Theo báo cáo sơ kết 10 năm thực hiện Đề án “ĐTN cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Tổng cục GDNN, trong giai đoạn 2010 - 2015, nội dung về ĐTN cho LĐNT là một dự án “ĐTN cho LĐNT” trong Chương trình mục tiêu quốc gia Việc làm và Dạy nghề; giai đoạn 2016 - 2020, ĐTN cho 19 LĐNT là một nội dung “Nâng cao chất lượng ĐTN cho LĐNT” trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Sau 10 năm triển khai thực hiện Đề án, công tác ĐTN cho LĐNT đạt được những kết quả: - Nâng tỷ lệ LĐ qua ĐT từ 28% (có văn bằng, chứng chỉ đạt 14,1%) năm 2009 lên 59,5% (có văn bằng, chứng chỉ đạt khoảng 23%) cuối quý 1/2019, tăng 31,8%. - Vượt chỉ tiêu chung tỷ lệ LĐ có việc làm qua ĐT của cả nước và Vùng Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung trong xây dựng nông thôn mới 19,5% (59,5/40%); vượt chỉ tiêu LĐ có việc làm qua ĐT ở hai vùng phát triển nhất (Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ) 30% (75/45%) và 3 vùng còn lại (Trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Đồng bằng sông Cửu Long) 15% (40/25%). - Thực hiện chuyển dịch cơ cấu LĐ XH từ 51,5% làm nông nghiệp năm 2009, xuống còn khoảng 35,4% cuối quý 1/2019, giảm 16,1%.
- Nâng năng suất LĐ từ 37,9 triệu đồng năm 2009 lên đạt 102,2 triệu đồng năm 2018, gấp 2,7 lần. Năng suất LĐ trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp thuỷ sản 14,1 triệu đồng năm 2009 lên 39,8 triệu đồng năm 2018, gấp 2,82 lần. Trong 10 năm qua, công tác ĐTN cho LĐNT trên địa bàn tỉnh Bình Định đã có nhiều chuyển biến tích cực và hiệu quả. Các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh đã tuyển sinh ĐT 03 cấp trình độ cho 273.811 LĐ được học nghề; tỷ lệ LĐ qua ĐT hàng năm tăng 2%, góp phần xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ hộ nghèo; đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn của tỉnh.
Lý luận về quản lý hoạt động đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1.