Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC DÂN SỐ-KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về Dân số - Kế hoạch hóa gia đình 1. Dân số Trong khoa học cũng như trong thực tiễn có nhiều quan điểm khác nhau về dân số: Dân số là dân cư được xem xét, nghiên cứu ở góc độ quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số [33].
Dân cư không chỉ bao gồm số người mà nó còn bao gồm cả vấn đề kinh tế, văn hóa, sức khỏe, ngôn ngữ. Dân số là một tập hợp người (hay cộng đồng người) sinh sống trong một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể. Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính [38]. Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian.
Những biến động về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở đánh giá, nhận định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của quốc gia mình. Dân số là vấn đề gắn bó mật thiết với mọi mặt của đời sống kinh tế- xã hội. Nói đến dân số là nói đến mối quan hệ chặt chẽ giữa con người với con người hay mối quan hệ giữa các cộng đồng người ở cấp độ vĩ mô: Vùng, miền, lãnh thổ, dân tộc.
Dân số của một quốc gia được xác định tại thời điểm tiến hành cuộc tổng điều tra dân số. Dân số toàn cầu được xác định dựa trên 8 Luan van số liệu thống kê và báo cáo hàng năm của quốc gia và các khu vực trên thế giới. Quy mô, cơ cấu dân số trên lãnh thổ không ngừng biến động do có người được sinh ra, có người bị chết, có người di cư đến và có người di cư đi, hoặc đơn giản chỉ là theo năm tháng, bất cứ ai cũng chuyển từ nhóm tuổi nay sang nhóm tuổi khác [23]. Như vậy, Dân số là một tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, một địa phương hay một vùng lãnh thổ nhất định, được xác định tại một thời điểm cụ thể và nói đến Dân số là nói đến quy mô, cơ cấu, phân bố và những thành tố gây nên sự biến động của chúng như: sinh, chết, di cư.
Hay nói cách khác, dân số bao gồm 04 yếu tố cơ bản : Thứ nhất là quy mô dân số: là sự biểu thị khái quát tổng số dân của một địa phương (xã, huyện, tỉnh, vùng, quốc gia hay các khu vực khác nhau trên thế giới). Sự thay đổi của quy mô dân số chịu ảnh hưởng của biến động tự nhiên và của cơ học. Quy mô dân số có thể chia ra quy mô dân số thời điểm (đầu kỳ, cuối kỳ, một thời điểm nào đó) và quy mô dân số trung bình của một thời kỳ. Biến động dân số là sự tăng hay giảm quy mô dân số của một địa phương theo thời gian.
Nếu quy mô dân số của một địa phương tại thời điểm cuối lớn hơn thời điểm đầu của một thời kỳ gọi là gia tăng dân số. Ngược lại, nếu quy mô dân số của một địa phương thời điểm cuối nhỏ hơn thời điểm đầu gọi là suy giảm dân số. Số lượng tuyệt đối của biến động dân số được tính bằng chênh lệch về quy mô dân số ở thời điểm cuối và thời điểm đầu của một thời kỳ. Nhà nước điều chỉnh quy mô và tốc độ tăng dân số phù hợp với sự phát triển kinh tế-xã hội, tài nguyên, môi trường; đảm bảo cơ cấu nhân khẩu học thích ứng cho sự phát triển bền vững.
Điều chỉnh trực tiếp quy mô và tốc độ tăng dân số thông qua việc điều chỉnh mức sinh; giảm tỷ suất chết do các nguyên nhân chủ quan, tỷ suất chết của trẻ em dưới một tuổi, dưới năm tuổi và của người mẹ trong thời gian thai sản; định hướng di dân phù hợp với yêu cầu phân bổ nguồn 9 Luan van lực, phát huy tiềm năng tài nguyên, bảo vệ an ninh, quốc phòng. Điều chỉnh gián tiếp quy mô và tốc độ tăng dân số thông qua các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội trong từng giai đoạn. Thứ hai là cơ cấu dân số: Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một quốc gia, của từng vùng theo các đặc trưng khác nhau. Trong đó cơ cấu dân số theo tuổi và cơ cấu dân số theo giới tính là hai cơ cấu thường được sử dụng nhiều nhất.
Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội. Cơ cấu dân số theo tuổi được thể hiện thông qua sự phân chia dân số theo từng độ tuổi, nhóm 5 độ tuổi hoặc 10 tuổi hoặc các nhóm tuổi trẻ em (0-14 tuổi), nhóm tuổi lao động (15-59 tuổi), nhóm tuổi già (trên 60 tuổi). Cơ cấu giới tính là sự phân chia dân số thành hai nhóm nam và nữ. Hiện nay, các nhà nhân khẩu học đưa ra một thuật nhữ mới là cơ cấu dân số vàng.
Đây là một cơ cấu dân số mà tỷ số phụ thuộc đạt mức thấp nhất, nếu vượt qua ngưỡng đó thì tỷ số phụ thuộc lại tăng lên. Tỷ số giới tính khi sinh được tính bằng số bé trai sinh ra sống so với 100 bé gái sinh ra sống trong cùng thời kỳ. Tỷ số giới tính khi sinh thông thường là từ 103-106 bé trai trên 100 bé gái. Mất cân bằng giới tính khi sinh là số bé trai được sinh ra còn sống vượt trên ngưỡng bình thường so với 100 số bé gái được sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm tại một quốc gia, một vùng hay một tỉnh.
Theo nhân khẩu học khi tỷ số giới tính khi sinh của một quốc gia, một vùng hoặc một tỉnh/thành phố từ 110 trở lên là mất cân bằng giới tính khi sinh. Giai đoạn “già hóa dân số” khi tỷ lệ người 60 tuổi trở lên chiếm từ 10% đến dưới 20% tổng dân số hoặc khi dân số 65 tuổi trở lên chiếm từ 7% đến dưới 14% tổng dân số. Cơ cấu “dân số vàng” khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50%, hay 10 Luan van nói cách khác có trên 2 người trong độ tuổi lao động trên 1 người trong độ tuổi phụ thuộc. Nhà nước điều chỉnh cơ cấu dân số cân đối về giới tính, nhóm tuổi trong dân số của cả nước, khu vực, địa phương; bảo đảm sự phát triển bền vững.
Điều chỉnh trực tiếp cơ cấu dân số thông qua điều chỉnh mức sinh, cơ cấu dân số theo nhóm tuổi; điều chỉnh tỷ số giới tính khi sinh theo quy luật tự nhiên; định hướng di dân theo nhóm tuổi, giới tính giữa các khu vực, địa phương. Điều chỉnh gián tiếp cơ cấu dân số thông qua các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới và lồng ghép dân số trong phát triển. Thứ ba là phân bố dân cư: là sự phân chia dân số theo các đơn vị hành chính, vùng kinh tế. Để nghiên cứu phân bố dân cư người ta thường dùng chỉ tiêu mật độ dân số, thông thường là số người trên 01 km2.
Qua đó có thể xác định số dân theo các vùng địa lý-kinh tế, nhận biết vùng này đông dân, vùng kia thưa dân và giúp cho việc phân bố và tái phân bố lực lượng sản xuất, lao động và dân cư hợp lý hơn. Sự thay đổi dân cư theo vùng là do cả hai yếu tố tự nhiên và cơ học. Tuy nhiên, có vùng số người nhập cư chiếm tỷ trọng lớn, có vùng số xuất cư và tăng tự nhiên dân số gần tương đương nhau. Nhà nước định hướng phân bổ dân số hợp lý giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa các địa phương trên cơ sở tôn trọng quyền tự do di dân, tự do cư trú.
Điều chỉnh trực tiếp quá trình di dân giữa nơi đi, nơi đến theo quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án được duyệt và sự tự nguyện của người di dân. Điều chỉnh gián tiếp quá trình di dân thông qua việc tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế-xã hội; giảm sự phân bổ nguồn lực không đồng đều giữa các khu vực, địa phương; ưu tiên đầu tư phát triển vùng nghèo, vùng khó khăn. Bảo đảm bình đẳng về quyền, lợi ích của 11 Luan van người di dân với người dân sở tại; cải thiện môi trường, cơ sở hạ tầng đô thị bảo đảm các tiêu chí của đô thị khi số dân tăng lên. Thứ tư là chất lượng dân số: “Chất lượng dân số là khả năng của con người thực hiện các hoạt động một cách hiệu quả nhất”[31].
Hội nghị Quốc tế lần thứ tư về dân số tại Mexico năm 1984 với sự tham gia của 146 nước cũng đã thống nhất rằng vấn đề dân số không phải chỉ là số lượng mà bao gồm cả chất lượng cuộc sống, phúc lợi xã hội. Năm 1993, Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ 4 (Khóa VII) đã nói rõ “công tác dân số kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế-xã hội hàng đầu của đất nước ta, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội” [10]. Pháp lệnh Dân số năm 2003 đã xác định “Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước” [38]. Chất lượng dân số là tổng thể các yếu tố tạo nên thể lực, trí lực của con người nói chung.
Theo mục 6, Điều 3, Pháp lệnh Dân số năm 2003 thì “Chất lượng dân số phản ánh các đặc trưng về thể chất, trí tuệ, tinh thần của toàn bộ dân số”. Thể chất gồm nhiều yếu tố khác nhau trong đó có các số đo về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, bệnh tật, tuổi thọ, các yếu tố giống nòi, gen di truyền (như tật nguyền bẩm sinh, thiểu năng trí tuệ, nhiễm chất độc da cam) của người dân.