CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KON RẪY, THÀNH PHỐ KON TUM 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Từ khi xã hội phát triển và từ sự phân công lao động đã hình thành hoạt động đặc biệt đó là sự chỉ huy, chỉ đạo, điều khiển/điều hành, kiểm tra, điều chỉnh giành cho những người đứng đầu của một tổ chức hay một nhóm. Hoạt động đặc biệt đó chính là hoạt động quản lý. Và cũng từ lúc đó mọi người đi tìm hiểu bản chất khái niệm QL và đưa ra những định nghĩa khác nhau từ những góc nhìn riêng.
Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylor cho rằng: "Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất"; hoặc A. Fayon lại cho rằng: "Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật, lực) của nó".Koontz thì khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì QL là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì QL là một khoa học". Đối với mỗi lĩnh vực sẽ có những hình thức quản lí có đực thù khác nhau.
Và trong hệ thống tổ chức của các trường phổ thông, đơn vị cơ bản được tổ chức để để quản lí, giảng dạy và giáo dục HS là lớp học. Hình thức tổ chức dạy học, GD theo lớp được hình thành từ thế kỉ XVI do nhà giáo dục Tiệp Khắc JA. Mô hình lớp học được duy trì và ngày càng phát triển mạnh mẽ ở khắp các nước trên thế giới. Không những vậy, mô hình lớp học được phát triển và mở rộng, tùy thuộc vào điều kiện thực tế, song bao giờ một lớp học vẫn cần người quản lý.
Để QL lớp học, nhà trường cử ra một trong những GV đang giảng dạy làm chủ nhiệm lớp. GVCN được hiệu trưởng nhà trường lựa chọn từ những GV ưu tú có kinh nghiệm GD, có uy tín trong HS, được hội đồng nhà trường nhất trí phân công chủ nhiệm lớp học xác định để thực hiện mục tiêu. Như vậy, khi nói đến GVCN lớp là nói đến mặt quản lý và mặt lãnh đạo học sinh của một lớp. Trong báo cáo (1996) với nhan đề “Học tập: Một kho báu tiềm ẩn” của UNESCO đã xem xét vấn đề GD suốt đời như là việc học tập dựa trên bốn trụ cột lớn: “Học để biết; Học để làm; Học để cùng chung sống; Học để cùng tồn tại”.
Đây chính là định hướng cốt lõi cho GD học sinh trong các trường THCS. Vấn đề GD để làm gì? GD cái gì? và GD như thế nào? Để giải đáp những câu hỏi trên đòi hỏi các nhà giáo dục không chỉ dạy học sinh có kiến thức gì, hiểu được gì mà các em còn cần có những kĩ năng gì để các em có thể "biết, làm, chung sống và tồn tại"? Làm được những việc đó thì vai trò của người GVCN là vô cùng quan trọng. 6 Trong tác phẩm “Phương pháp công tác chủ nhiệm lớp” (NXB Giáo dục Matxcơva,1984), Bôn - đư - rép N. đã trình bày những phương pháp cơ bản về cách thức thực hiện công tác chủ nhiệm lớp ở các trường PT.
Từ định hướng trên, các nước phát triển đã chỉ ra những nội dung GD cho HS trung học mà có liên quan đến công tác chủ nhiệm lớp. Những nội dung GD học sinh như: GD kĩ năng sống, GD những giá trị sống, GD hướng nghiệp… Theo quan điểm của UNESCO đã cho rằng GD trung học là giai đoạn mà thế hệ trẻ lựa chọn cho mình những giá trị cần thiết cho cuộc sống cũng như con đường chuẩn bị bước vào hoạt động nghề nghiệp và cuộc sống sau này. Đặc biệt, cuốn tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn (Unicef 2005) cũng đưa ra những cách thức tham vấn cho HS lứa tuổi thanh niên. Như vậy, người GV cần tổ chức các họat động khác nhau để HS có thể tham gia được dễ dàng và học được rất nhiều thứ từ đó.
Ở Việt Nam, nhiều tác giả cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý và quản lý trong GD. Các tác giả cũng đưa ra những quan niệm của mình: "Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu" (PGS.TS Trần Quốc Thành); hay "Quản lý là một quá trình định hướng, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người QL mong muốn" (TS Đặng Vũ Hoạt). Nhìn chung các quan niệm về QL đều nhấn mạnh đến hoạt động nhằm hướng vào đạt mục tiêu đã hoạch định.
Nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp được tác giả Nguyễn Thanh Bình quan tâm sâu sắc với các công trình: “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS”, đề tài mã số SPHN-09-465NCSP, 2010, cũng như cuốn “Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS hiện nay” (NXB Đại học sư phạm, 2011). Ở đây các tác giả đề cập đến những vấn đề cơ bản của công tác chủ nhiệm lớp, những nội dung trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học. Tác giả Nguyễn Thị Kim Dung cũng thể hiện quan điểm của mình về nội dung quan trọng trong đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên sư phạm (kỉ yếu hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên các trường Đại học sư phạm”, 2010). Ngoài ra còn có nhiều nhà khoa học cũng quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp với các công trình như: Nguyễn Dục Quang, Lê Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, “Những tình huống giáo dục HS của người GVCN”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000; Hà Nhật Thăng (chủ biên), “Phương pháp công tác của người GVCN trường THPT”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001; Hà Nhật Thăng, Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, “Công tác GVCN ở trường phổ thông”, NXBGD, 1998; Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Kỷ yếu hội thảo Công tác GVCN ở trường phổ thông”, NXBGD, 2010.
7 Các tác giả còn đi sâu vào nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến công tác chủ nhiệm như: Nguyễn Thanh Bình với tác phẩm “Giáo dục kĩ năng sống” (NXB Đại học sư phạm, HN 2007); Nguyễn Thị Kim Dung và cộng sự “Hướng dẫn tổ chức họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (tài liệu dành cho lớp 11); Nguyễn Thị Kim Dung với đề tài “Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm của học sinh tiểu học thông qua họat động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (2006 -2007), mã số: B 2006 - 17- 01- 2007. Tất cả những công trình và lí luận trên đều rất bổ ích, thiết thực nhưng để áp dụng vào thực tế từng đơn vị trường học, từng đối tượng HS và phù hợp với đặc điểm riêng của từng địa phương thì là một vấn đề đòi hỏi sự nghiên cứu và sáng tạo hợp lí. Hiện vấn các công trình lí luận này chưa hoặc ít được áp dụng, thực hiện một cách đầy đủ, hợp lí ở các trường trung học cơ sở huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum – một tỉnh miền núi, nơi có nhiều dân tộc cùng sinh sống. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng hợp lí những nghiên cứu lí thuyết về công tác quản lí công tác chủ nhiệm là cần thiết.
CÁC KHÁI NIỆM CHÍNH CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm quản lý Trong quá trình hình thành và phát triển của mình, con người muốn tồn tại và phát triển cần phải có sự phối hợp với nhau trong một nhóm, một tổ chức. Để tổ chức, điều khiển tạo nên sự phối hợp của nhóm người trong hoạt động theo yêu cầu nhất định, một loại hình lao động mới xuất hiện. Loại hình lao động đó là hoạt động QL.
Như vậy, QL là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. QL là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội và là nhân tố không thể thiếu được trong sự phát triển của xã hội. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của QL trong sự ổn định và phát triển của xã hội. QL là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử.
Theo Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[4]. Từ quan niệm trên, có nhiều định nghĩa khác nhau về QL, tùy theo góc độ xem xét của mình. Như theo tác giả Frederich Wiliam Taylor (1856-1915) người Mỹ: “QL là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất”[10].
8 Trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực”, Paul Herscy và Ken Blanc Heard lại coi “QL là một quá trình cùng làm việc giữa nhà QL và người bị QL, nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”[25]. Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt coi “QL là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, QL một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[23]. Tác giả Mai Hữu Khuê lại cho rằng “Hoạt động QL là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy QL, hình thành một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu và các cấp QL, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu quả”[14] Giáo trình “QL giáo dục và đào tạo” của trường Cán bộ QL GD&DT có nêu: QL là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người nhằm đạt các mục tiêu kinh tế – xã hội.