Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH DẠY HỌC ĐỊA PHƯƠNG Ở TRƯỜNG THCS 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu trên thế giới Bàn về chương trình giáo dục có thừa hưởng kiến thức địa phương nhiều tác giả đã chia sẻ: sự hình thành các dân tộc, đất nước. Sau này người châu Âu nhận ra tính khu biệt của văn hóa vì thế vấn đề nghiên cứu địa phương học và khu vực học rất phát triển.
Các thuyết “khuếch tán văn hóa” ở Tây Âu thế kỉ XIX (A.Bradford, Perxisk), trường phái văn hóa lịch sử ở Đức Áo (W.Rats), trường phái “Age and Area” của Bắc Mĩ, lí thuyết vùng văn hóa của nhân chủng học hoa kì (F.Boas), khu vực lịch sử văn hóa (Xô Viết)… đã tạo nền tảng lí luận cho việc nghiên cứu địa phương học, khu vực học. Qua đó, chương trình giáo dục cũng thừa hưởng thành quả và ý thức được việc tạo dựng nội dung học về địa phương [24]. Tiên phong trong lĩnh vực giáo dục về địa phương học là ngành địa lí.Berg (1925) gọi địa phương học là môn địa lí quê hương. Bộ môn địa phương học xem địa lí là trung tâm nhưng rất cần thiết với tất cả các ngành khác, do đó địa phương học được chia ra thành địa phương học của nhà nước, địa phương học nhà trường, địa phương học quần chúng, Trong đó địa phương học nhà trường được hiểu là những hoạt động, nội dung do học sinh tiến hành nghiên cứu dưới sự chỉ đạo của giáo viên [7].
Tác phẩm Cẩm nang quốc tế về nghiên cứu chương trình đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu chương trình thế giới và giới thiệu chương trình tiêu biểu của các quốc gia. Nội dung tác phẩm gồm 2 phần: phần 1 giới thiệu về nghiên cứu chương trình thế giới tập trung vào các vấn đề lí luận, hướng tới chương trình và giáo dục toàn cầu. Phần 2 đề cập đến chương trình các quốc gia. Trong đó chương 7 viết về Hướng dẫn Chương trình ở Úc: hướng tới một cây chương 6 trình địa phương của lĩnh vực chương trình.
Hướng dẫn chương trình ở Úc được thực hiện từ những năm gần đây. Đầu năm 1980, văn phòng chính phủ đã xây dựng Viện nghiên cứu chương trình (Curruculum Studies Association - ACSA). Trong chương đó, Bill Green (Charles Stuart University) đã tổng thuật các quan niệm về chương trình và chương trình địa phương ở Úc. Ông điểm qua quan điểm của Bernstein (1975), “cho rằng nguyên tắc cao nhất là cố gắng lựa chọn, tổ chức và đánh giá những gì xã hội coi như kiến thức có giá trị.
Điều này là bởi những kiến thức đựa chọn, nó được dạy ra sao và đánh giá như thế nào trong nhà trường là vấn đề trọng tâm của cá nhân và xã hội”. Moore (2007) cho rằng “những gì chúng ta biết ảnh hưởng đến chúng ta tồn tại. Vấn đề xung quanh chương trình của Úc có mục tiêu là vấn đề nội dung (lựa chọn dạy cái gì) và hình thức (cách tổ chức giờ dạy, lớp học). Quan niệm truyền thống đến đương đại của các nhà giáo dục Úc đều thống nhất chương trình giáo dục có tính chất địa phương, tính hệ thống và tính quốc gia” [13].
Ở Hàn Quốc, chương trình giáo dục phổ thông đã được thay đổi nhiều lần. Tháng 9/1992 chương trình thứ 6 đã được ban hành, tháng 12/1997 là chương trình thứ 7. Chương trình 2007 xây dựng khung và đến năm 2009, chương trình giáo dục cá nhân, chương trình thử nghiệm 2009, có 4 nội dung: (1) Định hướng cá nhân: sự cân bằng, thể chất, kĩ năng tự chủ động; (2) Sáng tạo cá nhân: kĩ năng cơ bản, suy nghĩ khác nhau về vấn đề, kĩ năng giải thích, kĩ năng quan sát và sáng tạo giá trị mới; (3) Trau dồi cá nhân: văn hóa văn học, hiểu vế giá trị cuộc sống; (4) Cá nhân hướng tới trí tuệ nhân loại: kĩ năng cộng đồng. Chương trình 2009 cho phép các trường tổ chức chương trình, cấu trúc giờ học riêng từ 20-35%.
Do đó các trường có thể kéo dài thêm chương trình bằng cách tăng giờ cho âm nhạc, nghệ thuật và giáo dục thể chất hoặc tăng giờ cho những học sinh kém. Họ cũng dành cho âm nhạc, nghệ thuật, dân tộc học 1 giờ /tuần. Phụ huynh và học sinh có thể chọn những môn học thiết kế, sử dụng 7 thời gian tăng cường cho việc học hoặc tham gia các hoạt động động đồng phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân [16]. Trong bài viết Sự liên hệ giữa sáng tạo và đổi mới: trường hợp chương trình Hàn Quốc tác giả Kim Jin Sook đã mô tả sự thay đổi chương trình địa phương theo chương trình quốc gia 2009 bằng mô hình vị trí của chương trình quốc gia, địa phương và chương trình nhà trường như sau: Chương trình quốc gia: Bộ giáo dục, khoa học và công nghệ Tổ chức và hướng dẫn bổ sung (17 đơn vị Sở giáo dục Thủ đô và tỉnh, tổ chức điều hành dạy học địa phương) Chương trình cơ bản của nhà trường (11360 trường phổ thông và 8538 trường mầm non) Chương trình quốc gia được quyết định và ban hành bởi Bộ Giáo dục, chương trình giáo dục cấp độ địa phương thiết lập bởi người quản lí, giám sát của dạy học địa phương.
Năm 2009 ban hành chương trình quốc gia của Bộ giáo dục. Tuy nhiên điểm thay đổi quan trọng ở chương trình địa phương: Mở rộng khuyến khích chương trình nhà trường. Cách thức tổ chức của Hàn Quốc như sau: Bộ giáo dục có 2 người phụ trách chương trình địa phương. Mỗi Sở giáo dục tỉnh có khoảng 20 cố vấn cho trường trung học, trong đó cố vấn cho chương trình nhà trường có 2 người, từ đó ở cấp phòng cũng sẽ có nhân sự phụ trách như vậy tạo nên một hệ thống từ trên xuống chịu trách nhiệm giám sát chương trình địa phương và chương trình nhà trường.
Những sự thay đổi chương trình nhà trường còn đáp ứng nhiều chính sách của quốc gia. Thậm chí họ còn có giải thưởng trường học xuất sắc “Excellent school, diserve curricula”. Trong đó chương trình địa phương tập trung vào các vấn đề: (1) Nhiều hoạt động hơn trong phạm vi chương trình và sau chương trình nhà trường. (2) Nhiều người tham dự hơn sau chương trình nhà trường.
Những nghiên cứu ở trong nước Nghiên cứu đề xuất xây dựng nội dung chương trình Văn học địa phương ở trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực người học được tác giả Bùi Thanh Truyền đề cập đến trong bài viết Chương trình Văn học địa phương với định hướng dạy học phát triển năng lực ở trường phổ thông sau năm 2015 [26]. Một vài kinh nghiệm giảng dạy bài “chương trình dạy học địa phương” (phần văn và tập làm văn) của tác giả Trần Thị Trà My [https://text. Nghiên cứu, xây dựng chương trình địa phương trong chương trình tổng thể môn Ngữ văn của tác giả Nguyễn Việt Hùng [http:nguvan.vn]; Biện pháp quản lý thực hiện chương trình giáo dục địa phương của Hiệu trưởng trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tác giả Giáp Thị Khuyên [https://text. Đổi mới dạy học lịch sử địa phương ở trường THCS tỉnh Hà giang của tác giả Nguyễn Minh Nguyệt, luận án tiến sĩ khoa học giáo dục [http://luanvan.
Một số khái niệm cơ bản của luận văn 1. Chương trình dạy học Chương trình theo tiếng Anh là curriculum - con đường mòn xuất phát từ thời la mã cổ đại) thời nay curriculum được sử dụng trong nhà trường có nhiều các hiểu: Curriculum là những gì được giảng dạy trong nhà trường. Curriculum là những gì xảy ra trong nhà trường bao gồm cả các hoạt động ngoại khóa, quá trình giảng dạy và các mỗi quan hệ giữa các cá nhân với nhau. Chương trình là văn bản do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong đó ghi rõ “vị trí môn học, yêu cầu nội dung chi tiết, thời gian thực hiện, hướng dẫn thực hiện chương trình [16, tr.
9 “Chương trình là tổ hợp các kinh nghiệm và hoạt động được tổ chức trong một môi trường sư phạm nhất định nhằm hình thành và phát triển ở học sinh những năng lực trí tuệ, đạo đức, thẩm mĩ, thể lực và lao động. Nó thể hiện mục tiêu giáo dục mà học sinh đạt được trong một khoảng thời gian xác định, đồng thời xác định rõ nội dung dạy học, các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, các hình thức đánh giá kết quả học tập cũng như những điều kiện nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục đã đề ra”. Chương trình dạy học: Chương trình học được hiểu là tất cả các hoạt động học tập được nhà trường lên kế hoạch và hướng dẫn, cho dù các hoạt động này diễn ra trong các nhóm hay với từng cá nhân, bên trong hay bên ngoài lớp học. Chương trình học phác họa những kỹ năng, thành tích, thái độ, và giá trị mà học sinh-sinh viên được mong đợi là sẽ đạt được từ việc đi học.
Nó bao gồm những phát biểu về những kết quả học tập theo như mong đợi, như mô tả tài liệu học tập, và trình tự sẽ được sử dụng để giúp người học đạt được kết quả học tập. Tác giả Nguyễn Ngọc Bảo “Chương trình dạy học là văn kiện do Nhà nước ban hành, trong đó quy định một cách cụ thể: vị trí, mục đích môn học, phạm vi và hệ thống nội dung môn học, số tiết dành cho môn học nói chung cũng như từng phần, từng chương, từng bài nói riêng” [Nguyễn Ngọc Bảo, Trần Kiểm (2005), Lý luận dạy học ở trường THCS, Nxb ĐHSP, 2005] Chương trình học là toàn bộ trải nghiệm học tập do nhà trường cung cấp. Nó bao gồm nội dung các khóa học (đề cương khóa học), phương pháp sử dụng (chiến lược), và những khía cạnh khác, chẳng hạn như những giá trị và chuẩn mực, liên quan đến cách tổ chức nhà trường. Chương trình học là tập hợp những khóa học trong một môi trường học tập.
Các khóa học được sắp xếp theo một trình tự nhất định làm cho việc học được thực hiện một cách dễ dàng hơn. 10 Theo cá nhân: Chương trình dạy học là khung chương trình do Bộ GD quy định và định hướng để các cơ sở giáo dục xây dựng chương trình dạy học phù hợp với thực tế ở địa phương. Chương trình dạy học địa phương Chương trình dạy học địa phương là một phần của chương trình nhà trường, những nội dung dạy học địa phương được lựa chọn nhằm đảm bảo cung cấp cho người học những kiến thức, kỹ năng cơ bản gắn với thực tiễn địa phương, qua đó phát triển nhân cách học sinh.