Chương 1: Một số lý luận cơ bản về quản lý chi NSNN cấp huyện Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi NSNN tại huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NSNN tại huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương. 9 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN 1. Những vấn đề cơ bản về chi ngân sách nhà nƣớc cấp huyện 1. Hệ thống ngân sách nhà nước 1.
Khái niệm và vai trò của NSNN a) Khái niệm Có nhiều khái niệm về NSNN, tuy nhiên trong nghiên cứu này tác giả s dụng khái niệm được thể hiện trong Luật NSNN của Việt Nam năm 2015. Theo đó,“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [Luật NSNN số 83/2015/QH13, tr3 ]. Xét theo góc độ quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của Nhà nước hay bảng cân đối thu - chi chủ yếu của Nhà nước trong một khoảng th i gian nhất định (thư ng là một năm và được gọi là năm ngân sách). Tại hầu hết các nước trong đó có Việt Nam, năm ngân sách trùng với năm dương lịch, bắt đầu từ 01/01 kết thúc vào 31/12.
Về bản chất của NSNN, đằng sau những con số thu, chi đó là các quan hệ kinh tế giữa nhà nước với các chủ thể khác phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và s dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước. Đối tượng phân phối để tạo lập nguồn thu cho NSNN là giá trị của cải xã hội. Mục đích phân phối, s dụng nguồn vốn NSNN là đáp ứng cho các nhu cầu gắn liền với việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng th i gian cụ thể. [5] Vì vậy, nghiệp vụ chủ yếu của NSNN là thu - chi nhưng không đơn thuần là việc tăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh quan hệ kinh tế - tài chính giữa Nhà nước với các tác nhân khác nhau của nền kinh tế trong quá trình phân bổ các nguồn lực và phân phối thu nhập mới được tạo ra.
Các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù ngân sách bao gồm: (1) quan hệ giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế (doanh nghiệp); (2) quan hệ giữa nhà nước với các cơ quan chức năng của Nhà nước (các cơ quan quản lý hành chính sự nghiệp hay các lĩnh vực không sản xuất vật chất); (3) quan hệ giữa ngân sách với các tầng lớp dân. 10 cư; (4) quan hệ giữa Nhà nước với các định chế tài chính quốc tế với các Chính phủ và các tổ chức phi Chính phủ. Những quan hệ nói trên thể hiện rõ nội dung KT-XH của NSNN, nhìn trên góc độ NSNN là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế trọng yếu của Nhà nước. b) Vai trò của NSNN NSNN có vai trò quan trọng trong hoạt động KT-XH, ANQP và đối ngoại của đất nước.
Tuy nhiên vai trò của NSNN bao gi cũng gắn với vai trò của Nhà nước trong từng th i kỳ. Có thể xem xét vai trò của NSNN trên các lĩnh vực sau đây: Thứ nhất, NSNN đảm bảo nguồn tài chính đáp ứng cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng th i gian cụ thể theo quy định của pháp luật. Với quyền lực của mình Nhà nước s dụng các công cụ, biện pháp bắt buộc các thành viên trong xã hội cung cấp cho mình nguồn lực tài chính cần thiết. Theo đó, Nhà nước có thể huy động nguồn tài chính thông qua các chính sách thuế và phí, đây là những khoản thu có tính chất bắt buộc và không hoàn trả được quyết định bởi quyền lực của Nhà nước thông qua hệ thống pháp lý.
Ngoài ra, Nhà nước còn có thể huy động các nguồn tài chính khác dưới hình thức nợ công như: phát hành công trái, vay nợ nước ngoài và tín dụng quốc tế. Các nguồn lực tài chính này sẽ đảm bảo các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước (chi đầu tư phát triển, chi thư ng xuyên và chi cho dự trữ quốc gia…), bảo đảm việc thực hiện các chức năng KT-XH của Nhà nước. Thứ hai, NSNN là công cụ tài chính quan trọng được Nhà nước s dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và ổn định xã hội. Các công cụ được s dụng để điều tiết vĩ mô gồm: chi tiêu chính phủ, thuế, phí, lãi suất tín dụng, tỷ lệ lãi suất chiết khấu,…Thông qua các chính sách thuế, sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh, hỗ trợ huy động các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Chẳng hạn như bằng việc thiết lập hệ thống thuế với nhiều sắc thuế khác nhau theo mức động viên và chính sách ưu tiên miễn, giảm thuế thích hợp đã tác động tới việc lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ của các nhà đầu tư. Chi NSNN cũng sẽ tác động tới cung – cầu hàng hóa, dịch vụ trên thị trư ng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. 11 NSNN cũng là công cụ được Nhà nước s dụng để kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả thị trư ng và tạo việc làm cho ngư i lao động. Ngoài ra, về mặt xã hội, các khoản chi NSNN cho giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao, trợ cấp… sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống dân cư; các chính sách thuế sẽ góp phần điều tiết tiêu dùng hợp lý, đảm bảo công bằng trong phân phối thu nhập vì vậy tạo ra sự ổn định KT-XH.
Thứ ba, NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân, là công cụ kiểm tra, giám sát các hoạt động KT-XH. NSNN là quỹ tiền tệ lớn nhất và thuộc quyền chi phối của Nhà nước, NSNN đã trở thành công cụ giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính của nền kinh tế quốc dân. Vai trò này của NSNN được thừa nhận trong hoạt động thực tiễn qua thông qua thu – chi NSNN. Là một phạm trù tài chính, NSNN cũng có chức năng giám đốc tài chính.
NSNN có mối quan hệ mật thiết với các khâu tài chính khác trong hệ thống tài chính quốc gia. Nó thể hiện ở chỗ các khâu tài chính đều phải làm nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước; mặt khác lại nhận được sự tài trợ, hỗ trợ của NSNN dưới những hình thức khác nhau trực tiếp hoặc gián tiếp. Kiểm tra của NSNN gắn chặt với quyền lực Nhà nước, nhất là quyền lực của hệ thống hành chính Nhà nước. Nó là một loại kiểm tra đơn phương theo hệ thống thứ bậc cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính Nhà nước các cấp về nghĩa vụ phải thực hiện đối với NSNN cũng như việc s dụng vốn, kinh phí, tài sản Nhà nước.
Hệ thống NSNN ở Việt Nam Theo Luật NSNN năm 2015, hệ thống NSNN gồm ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP). Trong đó, NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND dân và UBND và được chia thành: ngân sách cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); ngân sách cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện); và ngân sách cấp xã, phư ng, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã). 12 Cơ cấu tổ chức của hệ thống NSNN nước ta có thể mô tả theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1. Cấu trúc hệ thống ngân sách Nhà nước ở Việt Nam NSNN NSĐP NSTƯ NS cấp tỉnh NS cấp huyện NS các Bộ, cơ quan TƯ NS của các Sở, ban NS cấp huyện NS cấp xã ngành thuộc tỉnh NS các phòng, ban NS các đơn vị cấp huyện thuộc xã Quan hệ giữa NSNN các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc [6]: (1) NSTƯ và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương được phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cụ thể; (2) Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảo đảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương.
Số bổ sung này là khoản thu của ngân sách cấp dưới; (3) Trư ng hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phải chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó; và (4) Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêu trên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác. Phân cấp quản lý NSNN a) Khái niệm Phân cấp quản lý ngân sách là việc xác định phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền các cấp, các đơn vị dự toán ngân sách trong việc quản lý NSNN phù hợp với phân cấp quản lý KT-XH [3]. 13 Thực chất của phân cấp quản lý ngân sách là quá trình Nhà nước phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định cho chính quyền địa phương và phân giao nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm nhất định của chính quyền cấp tỉnh cho chính quyền cấp huyện, xã về quản lý NSNN. b) Các nguyên tắc của phân cấp NSNN Nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa ngân sách các cấp, trong phân cấp ngân sách cần quán triệt các nguyên tắc sau: [7].
Thứ nhất, phân cấp ngân sách phải được tiến hành đồng th i với việc phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính. Quán triệt nguyên tắc này tạo cơ sở cho việc giải quyết mối quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền qua việc xác định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi của các cấp. Thực chất của nguyên tắc này là giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ và quyền lợi, quyền lợi phải tương xứng với nhiệm vụ được giao. Mặt khác, nguyên tắc này còn đảm bảo tính độc lập tương đối trong phân cấp quản lý NSNN ở nước ta.
Thứ hai, phải đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTƯ và tính độc lập chủ động của NSĐP. Cơ sở của nguyên tắc này xuất phát từ vị trí quan trọng của Nhà nước trung ương trong quản lý kinh tế, xã hội của cả nước mà hiến pháp đã quy định và từ tính chất xã hội hóa của nguồn tài chính quốc gia.