Chương 1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt theo pháp luật Chương 2. Thực trạng pháp luật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt vàthựctiễnthựchiệntrên địa bàn thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THU GOM, VẬN CHUYỂN, LƯU GIỮ VÀ XỬ LÝ CHẤT THẢI SINH HOẠT THEO PHÁP LUẬT 1. Những vấn đề lý luận về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt 1. Khái niệm chất thải sinh hoạt: Chất thải theo cách hiểu thông thường được định nghĩa trong Đại từ điển tiếng Việt là: “Rác, các chất, các vật bỏ đi không còn sử dụng được nữa” [33; tr. Dưới góc độ pháp lý, trong phần giải thích từ ngữ tại Khoản 12, Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, chất thải được giải thích là là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.Trên cở sở sự định nghĩa và ghi nhận đó, có thể thấy, chất thải có các bản chất sau: Thứ nhất, chất thải là những thứ không còn hữu dụng.
Bản chất chung của chất thải là tính vô hữu dụng với đời sống con người, do đó bị loại thải. Tính vô hữu dụng đó có thể xuất phát từ việc chất thải đã hoàn thành công năng của mình (nước thải công nghiệp; nước thải y tế; rác thải văn phòng…) hoặc chất thải là một phần cấu thành của sản phẩm hữu dụng (rác thải sinh hoạt hữu cơ; khí thải…) hoặc có thể là phế phẩm từ hoạt động sống và sản xuất, kinh doanh của con người (chất thải chăn nuôi; chất thải con người…). Vì bản chất chung của chúng là tính vô hữu dụng với đời sống con người nên bị loại bỏ. Thứ hai, chất thải là những thứ nguy hại đến đời sống con người.
Ở một góc độ nào đó, toàn bộ chất thải do con người tạo ra đều trực tiếp hoặc gián tiếp gây nguy hại cho đời sống con người. Sự nguy hại này có thể đến từ những thành tố sinh học (các chất độc hại), tác động tiêu cực đến sức khoẻ con người; cũng có thể đến từ đặc tính sinh học (khả năng phân huỷ), tác động tiêu cực đến không gian sống của con người; cũng có thể đến từ đặc tính hình khối của chất thải, tác động tiêu cực đến mỹ quan… Do đó, chất thải sinh hoạt cần phải được xử lý kịp thời và theo một quy trình nhất định để đảm bảo an toàn cho đời sống xã hội. Thứ ba, chất thải được chia thành nhiều loại khác nhau, tuy nhiên có ba cách phân loại chủ yếu gồm: Cách thứ nhất, dựa vào tác động tiêu cực của chất thải đối với môi trường được chia thành Chất thải nguy hại và Chất thải không nguy hại; Cách thứ 11 hai, dựa vào nguồn gốc chất thải có thể chia thành Chất thải sinh hoạt, Chất thải công nghiệp, Chất thải y tế, Chất thải văn phòng; Cách thứ ba dựa vào hình thức của chất thải được chia thành Chất thải rắn, Chất thải lỏng và Chất thải khí. Như vậy, dù ở cách chia nào cũng đều cho thấy rằng bản thân chất thải tồn tại dưới nhiều loại khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người.
Từ những phân tích trên có thể khái niệm: Chất thải là những vật chất được con người thải ra từ hoạt động sống, hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác dưới dạng chất thải rắn, chất thải khí và chất thải lỏng. Chất thải sinh hoạt là một loại chất thải. Đặc tính của chất thải sinh hoạt là được sinh ra từ hoạt động sinh hoạt của con người. Đây cũng là điểm phân biệt chất thải sinh hoạt với các loại chất thải có nguồn gốc từ các hoạt động khác như chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải văn phòng… Vì chất thải sinh hoạt là một loại chất thải, do đó có bản chất chung của chất thải là tính vô hữu dụng.
Nói cách khác, chất thải sinh hoạt cũng mang tính chất là những vật chất bị loại bỏ trời sinh hoạt hằng ngày của người dân. Như vậy, có thể khái niệm: Chất thải sinh hoạt là những phế phẩm vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Khái niệm thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt Chất thải sinh hoạt dù ở dạng nào cũng đều có những tác động tiêu cực đến môi trường sống của con người. Do đó, cần thiết phải được xử lý kịp thời và đúng quy trình để đảm bảo an toàn cho cuộc sống con người.
Quy trình này bao gồm các bước: thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt. Cụ thể các bước này được định nghĩa như sau: - Thu gom chất thải sinh hoạt là quá trình thu nhặt đối với rác sinh hoạt và thu gom đối với nước thải sinh hoạt nhằm đảm bảo làm sạch môi trường và bắt đầu cho quy trình xử lý chất thải sinh hoạt. Việc thu gom chất thải sinh hoạt được thực hiện dưới hai dạng: thu gom sau phân loại và thu gom trước phân loại. Tại Việt Nam chủ yếu là thu gom trước phân loại.
- Vận chuyển chất thải sinh hoạt là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh đến nơi xử lý, có thể kèm theo hoạt động thu gom, lưu giữ (hay tập kết) tạm thời, trung chuyển chất thải và sơ chế chất thải sinh hoạt tại điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển. 12 - Lưu giữ chất thải sinh hoạt là hoạt động tập kết, chứa đựng chất thải sinh hoạt để chờ xử lý. Việc lưu giữ bao gồm hoạt động phân loại và bảo quản chất thải sinh hoạt trong quá trình chờ xử lý. - Xử lý chất thải sinh hoạt là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật (khác với sơ chế) để làm giảm, loại bỏ, cô lập, cách ly, thiêu đốt, tiêu hủy, chôn lấp chất thải sinh hoạt và các yếu tố có hại trong chất thải sinh hoạt.
Mỗi hoạt động là một mắt xích cấu thành chu trình xử lý chất thải sinh hoạt, bước trước là cơ sở để thực hiện bước sau và bước sau là sự kế thừa của bước trước. Do đó, mỗi hoạt động đều đóng một vai trò không thể thay thế khác nhau. Những vấn đề lý luận về pháp luật thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt 1. Khái niệm pháp luật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt Trong xã hội có nhà nước, mọi quan hệ xã hội hay sự vật, hiện tượng có tác động đến đời sống xã hội, ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của công dân và nhà nước đều được pháp luật ghi nhận, điều chỉnh và bảo vệ.
Ứng với mỗi chế định pháp lý về nội dung, sự vật, hiện được đó được gọi là pháp luật về nội dung, sự vật, hiện tượng đó. Chất thải sinh hoạt là vấn đề xã hội vì tính vô hữu dụng của nó. Nghĩa là người dân trong hoạt động sống của mình tạo ra chất thải sinh hoạt và luôn mong muốn loại bỏ nó khỏi không gian sống của họ, vì chúng vô hữu dụng và tiềm ẩn các ảnh hưởng tiêu cực. Và cũng vì chính bản chất này mà việc xử lý chất thải không được xã hội tự nguyện thực hiện, đó là một hành vi phi lợi nhuận.
Những vấn đề xã hội mà tự thân xã hội không thể giải quyết được tất yếu sẽ cần đến sự ghi nhận, điều chỉnh và bảo vệ. Sự ghi nhận đó được thể hiện bằng các quy phạm pháp luật hợp thành chế định về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý rác thải. Hay còn gọi là pháp luật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt. Như vậy, Pháp luật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt là một hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh cácmối quan hệ xã hội phát sinh giữa chủ thể thảibỏ chất thải sinh hoạt với nhau và với các cơ quan quản lý nhà nước để thực hiện liên tục, hiệu quả và toàn diện các hoạt động thu gom, vận chuyển, lưu 13 giữ và xử lý chất thải sinh hoạt nhằm bảo vệ, cảithiện môi trường, nâng cao sức khoẻ cộng đồng và bảo đảm phát triển kinh tế bền vững.Nội dung điều chỉnh của pháp luật về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt 1.
Các quy định chủ thể trách nhiệm thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt Chủ thể thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt được hiểu là các bên có liên quan đến hoạt động thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt. Theo đó, chủ thể này được chia thành ba nhóm gồm: chủ thể xả thải; chủ thể thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt và chủ thể là cơ quan quản lý nhà nước về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt. Các nhóm chủ thể này sẽ được quy định trong văn bản pháp lý với những yêu cầu về tiêu chuẩn, quyền và nghĩa vụ khác nhau. - Nhóm chủ thể xả thải.
Chủ thể xả thải sinh hoạt được xác định trong văn bản pháp lý nhằm xác lập một trong những cơ sở phân biệt giữa chất thải sinh hoạt và các loại chất thải khác. Theo đó nhóm này gồm các cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức sản xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ nhằm duy trì sự tồn tại của xã hội. Nhóm này được quy định các quyền và nghĩa vụ như: quyền được xả thải theo quy định; quyền được sử dụng các dịch vụ về thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt do nhà nước và xã hội cung ứng; quyền được trình sáng kiến cải thiện hoạt động thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt và giám sát hoạt động này… Các nghĩa vụ như: tuân thủ nguyên tắc phân loại chất thải; tuân thủ quy trình xả thải; lắp đặt và sử dụng các thiết bị lưu giữ tạm thời hoặc trực tiếp xử lý tại nhà theo quy định và đóng các khoản phí xử lý chất thải sinh hoạt… - Nhóm chủ thể thực hiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải sinh hoạt. Đây là nhóm trực tiếp thực hiện quy trình xử lý chất thải sinh hoạt.