CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này đưa ra tổng quan các công trình nghiên cứu của nước ngoài và ở Việt Nam có liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu của luận án. Tình hình nghiên cứu về quản lý chất thải rắn sinh hoạt 1. Các nghiên cứu liên quan đến quản lý chất thải rắn sinh hoạt của nước ngoài Hiện nay, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về quản lý chất thải khá nhiều, chủ yếu là các đề tài nghiên cứu về thu gom, xử lý chất thải với tư cách là một hoạt động kinh tế. Hoạt động thu gom, xử lý chất thải rất được coi trọng tại các nước phát triển, các nghiên cứu này không chỉ dừng lại ở việc đề xuất mô hình thu gom chất thải, mà còn đề cập đến các giải pháp xử lý chất thải, trong đó chủ nguồn thải và các bên có lợi ích liên quan cũng có thể theo dõi thông tin thu gom và xử lý của từng lô chất thải nhằm theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình xử lý chất thải rắn.
Nhìn chung, các nghiên cứu có thể được tập hợp theo bốn khía cạnh nội dung cơ bản như sau: - Thứ nhất, tập hợp các nghiên cứu đề cập và làm rõ thực trạng phát thải, thu gom, xử lý chất thải tại các nước và nhiều nhất là những quốc gia đang phát triển Tại Abuja, thủ đô của Nigeria, hiệu quả của hệ thống quản lý chất thải rắn đã được xem xét và đánh giá. Trong nghiên cứu của A. Imam và cộng sự (2007) đã chỉ ra thực trạng quản lý chất thải tại thành phố Abuja gồm có: Vai trò của các cơ quan chính phủ liên bang, tình hình phát thải và các phương pháp xử lý tại đây. Trên cơ sở Báo cáo kiểm toán chất thải rắn năm 2004 tại thành phố Abuja, nghiên cứu này chỉ ra rằng lượng chất thải phát sinh đã tăng lên cả về số lượng và sự đa dạng trong khi không có sự đầu tư đầy đủ cho các cơ sở thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải.
Những vấn đề này phức tạp hơn bởi các yếu tố chính trị, kinh tế và các yếu tố xã hội. Phát sinh chất thải trung bình ở Abuja là 0,55-0,58 kg /người /ngày. Theo nghiên cứu của James Okot-Okumu (2012) quản lý chất thải là một trong những dịch vụ đô thị mục tiêu, hiệu quả và bền vững biểu hiện như một chỉ số cho thấy công tác quản trị địa phương tốt, đồng nghĩa với quản lý và cải cách đô thị thành công. Do đó, quản lý chất thải là chỉ số rất tốt để đánh giá về hiệu suất của một đô thị và đã được đề xuất để áp dụng tại các thành phố châu Phi - Đông Phi.
Bên cạnh đó, Mohee, R. và cộng sự (2015) đã chỉ ra thực trạng quản lý chất thải rắn đô thị luan an 8 cực kỳ hạn chế tại châu Phi thể hiện thông qua tỷ lệ thu gom chất thải tại nhiều thành phố lớn chỉ đạt khoảng 50%; ở khi vực ngoài đô thị, tỷ lệ này còn giảm sâu xuống còn 10%. Quản lý chất thải được xem như là một phần của hệ thống phân loại, thu gom và xử lý chất thải (Seadon, 2010). Tỷ lệ thu gom chất thải còn thấp cùng với các phương pháp xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị chưa được tiến hành an toàn và đúng đắn là một trong những tồn tại lớn nhất mà nhiều đô thị và các nước đang phát triển gặp phải khi thực hiện quản lý chất thải rắn đô thị (UN-Habitat, 2010a).
- Thứ hai, tập hợp những nghiên cứu về quản lý chất thải rắn đề cập đến những lý do/vấn đề cần giải quyết mà hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị ở những nước đang phát triển gặp phải. Hệ thống quản lý chất thải rắn bao gồm lưu giữ chất thải, thu gom và vận chuyển, phục hồi tài nguyên và tái chế, phân loại và xử lý chất thải rắn (A. và cộng sự (1997) đã đưa ra tám thách thức chung mà một số nước đang phát triển tại châu Á đang gặp phải với hệ thống quản lý chất thải rắn đô thị, gồm có: 1. Kỹ thuật xử lý hạn chế/ không phù hợp; 2.
Vấn đề thực hiện/ không tồn tại; 3. Vấn đề nguồn vốn hạn chế; 4. Năng lực đội ngũ nhân sự còn hạn hẹp; 5. Hệ thống chính trị còn thiếu sự quan tâm thích đáng; 6.
Hành lang pháp lý về quản lý chất thải rắn đô thị còn chưa đầy đủ; 7. Sự chồng chéo trách nhiệm giữa các cơ quan chính quyền; 8. Nhận thức của cộng đồng chưa tương xứng. Theo nghiên cứu trên, những yếu tố được đề cập đến gây ra tác động tiêu cực đến nỗ lực quản lý chất thất rắn của chính quyền thành phố ở châu Á, làm hạn chế công tác bảo vệ môi trường và duy trì các chỉ tiêu yếu tố môi trường cần thiết cho sự sống của con người.
Trong nghiên cứu Quản lý chất thải, cơ sở nguồn thải và quy trình chuyển đổi chất thải, Ayhan Demirbas (2011) đã chỉ ra rằng quản lý chất thải có thể bao gồm quản lý chất thải rắn, chất thải lỏng, các chất thái dạng khí hoặc phóng xạ, với nhiều phương pháp và các lĩnh vực chuyên môn khác nhau và có thể thu thập rất nhiều loại luan an 9 chất thải khác nhau theo các tiêu chí riêng biệt. Nhà nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực này cho rằng quản lý chất thải là một trong những cơ sở hạ tầng công cộng dựa trên một loại hình cụ thể cơ sở hạ tầng vật lý để cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ và việc quản lý này tương tự như ngành điện, khí thiên nhiên và nước. Vai trò của quản lý chất thải bền vững là giảm thiểu lượng chất thải phát thải vào môi trường bằng cách giảm lượng chất thải được tạo ra. Quản lý chất thải là việc thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế hoặc thải bỏ và giám sát các thành phần chất thải.
Một điển hình hệ thống quản lý chất thải bao gồm thu gom, vận chuyển, xử lý sơ bộ, chế biến và loại bỏ các chất cặn bã cuối cùng. Các mục đích của quản lý chất thải là cung cấp điều kiện sống vệ sinh để giảm số lượng vật chất đi vào hoặc rời khỏi xã hội và khuyến khích việc tái sử dụng chất thải trong xã hội. Theo đó, hệ thống quản lý chất thải bao gồm toàn bộ các hoạt động liên quan đến phân loại, xử lý, thải bỏ hoặc tái chế vật liệu phế thải. Mục đích của hệ thống quản lý chất thải là đảm bảo rằng chất thải được loại bỏ khỏi nguồn phát thải hoặc vị trí nơi chúng được tạo ra và xử lý, thải bỏ hoặc tái chế một cách an toàn và thích hợp.
Hệ thống bao gồm một số các bước được lập bảng trong Bảng 1. Hệ thống quản lý chất thải hiện đại mà nhiều thành phố tại các nước đang phát triển mong muốn được đặc trưng bởi tỷ lệ tái chế cao và sự phân loại chất thải ngay tại nguồn phát thải. Các giai đoạn của hệ thống quản lý chất thải Các giai đoạn chính Giai đoạn chi tiết Sản xuất nguyên vật liệu, Xác định các nguồn thải sản phẩm Phân tách chất thải khỏi nguồn Phân loại chất thải nội tại Tỷ lệ sản xuất Các loại chất thải Thu gom và vận chuyển Phân loại Vận chuyển Trung chuyển Xử lý hoặc tái chế Tái chế vật lý: Băm nhỏ, phân loại, nén (ép) chất thải Tái chế nhiệt: Thiêu đốt chất thải, khí hóa từ chất thải Tái chế sinh học: Phân hóa yếm khí, ủ phân hữu cơ Xử lý cuối cùng Tái chế Chôn lấp Nguồn: Theo Ayhan Demirbas (2011) luan an 10 - Thứ ba, tập hợp các nghiên cứu về giải pháp cho vấn đề quản lý chất thải rắn đô thị hiệu quả Giải pháp cho vấn đề quản lý chất thải rắn đô thị hiệu quả hay được đề cập tương đối sớm đó là xây dựng các tiêu chí để xác định tính bền vững của mô hình quản lý chất thải rắn đô thị. Việc tạo nên những chuẩn mực giúp cho các thành phố có thể kiểm chứng kết quả hoạt động quản lý chất thải rắn.
Bên cạnh đó, các tiêu chí đúng đắn sẽ rất hữu dụng khi mà cả cộng đồng đang nỗ lực chung tay bảo vệ sức khỏe, tăng cường phục hồi các nguồn tài nguyên và quản lý các nguồn lực, quản lý đô thị tốt hơn (Wilson, 2013). MacDonald (1996) với nghiên cứu “Các vấn đề về sử dụng chỉ tiêu chất thải rắn” đã chỉ ra các tiêu chí cơ bản gồm có: lượng chất thải phát sinh trung bình của một người, tỷ lệ chất thải được quản lý với những phương pháp chuyên biệt; và tỷ lệ các hộ dân được cung cấp dịch vụ môi trường. Tangguay và cộng sự (2010) cũng cho ràng các tiêu chí trên được sử dụng là một trọng số quan trọng của chỉ số phát triển bên vững tổng hợp ở các khi đô thị lớn. Nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn tại Ai-len: đánh giá tính bền vững” cũng nêu lên 12 tiêu chí với 4 lĩnh vực, gồm có: 5 tiêu chí về môi trường, 3 tiêu chí về quản trị, 2 tiêu chí về xã hội và 2 tiêu chí về kinh tế.
Sau khi đưa ra số liệu, nghiên cứu này đã lựa chọn 5 tiêu chí về môi trường và quản trị để xác định tính bền vững của hoạt động quản lý chất thải rắn theo các nhiệm vụ cụ thể và mục tiêu ban đầu (Desmond, 2006). - Thứ tư, tập hợp các nghiên cứu đề cập và làm rõ thực trạng phát thải, phân loại, thu gom, xử lý chất thải tại các hộ dân Trong tập hợp các nghiên cứu này, một hướng nghiên cứu cơ bản có từ khá sớm là đánh giá sự sẵn lòng chi trả các khoản phí môi trường của các hộ gia đình, xuất phát từ nhu cầu cấp bách của người dân mong muốn cải thiện không gian, môi trường sống. Để đánh giá sự sẵn lòng chi trả của hộ gia đình đối với ưu tiên nâng cấp hệ thống quản lý chất thải rắn so với hệ thống cấp nước và vệ sinh, Altaf và cộng sự (1996) đã sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng với cuộc khảo sát quy mô 1.000 hộ dân để tìm hiểu thông tin về phía hộ gia đình sử dụng dịch vụ môi trường.