CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT 1. Các khái niệm, phân loại và đặc điểm của chất thải rắn sinh hoạt 1. Các khái niệm Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn có đưa ra các khái niệm về chất thải rắn: “Chất thải rắn: Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn được được gọi là bùn thải) được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn (CTR) phát sinh trong các hoạt động của hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng nơi công cộng được gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt.
CTR phát sinh từ quá trình sản xuất làng nghề thủ công, công nghiệp, kinh doanh, dịch vụ… được gọi là chất thải rắn công nghiệp. Chất thải rắn sinh hoạt: Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) hay rác thải sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt của các cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng, khu chung cư, các cơ quan hành chính, và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát nước. CTRSH có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ thủy tinh, gạch, ngói vỡ, đất đá cao su chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre gỗ, lông gà, lông vịt, xác động vật, rơm, rạ,. Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập trung, phân loại, lưu trữ tạm thời CTR tại địa điểm thu gom tới địa điểm hay nơi tập kết được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
Quản lý chất thải rắn sinh hoạt: Quản lý CTRSH là việc tập kết, vận chuyển, lưu trữ, xử lý tái chế, loại bỏ hay thẩm tra các thành phần chất thải. Quản lý chải thải thường có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới các nguyên liệu đầu vào và đầu ra mà con người sử dụng trong quá trình sản xuất, đồng thời hoạt động này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến sức khỏe của con người, mỹ quan hay vệ sinh môi trường. Phân loại, quản lý chất thải một cách hiệu quả đóng vai trò không nhỏ trong việc phục hồi hay giảm thiểu một số loại tài nguyên phục vụ quá trình sản xuất.” Hệ số phát thải SVTH: Đỗ Hoàng Kỳ Anh Lớp: Kinh tế - Quản lý tài nguyên và môi trường 54 Chuyên đề tốt nghiệp 13 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường Hệ số phát thải là lượng rác thải phát sinh trung bình / người / ngày đêm. Hệ số phát thải phụ thuộc vào từng nguồn phát sinh; có sự khác nhau tùy điều kiện của từng khu vực; phụ thuộc vào văn hóa từng vùng, điều kiện kinh tế xã hội, khí hậu, mức sống… Đối với CTRSH, hệ số phát thải bình quân đầu người Việt Nam hiện nay khoảng 0,6kg/người/ngày đêm.
Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng: Là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần thiết để giải quyết vấn đề đó. Phương pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tập trung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trường như dự án tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực ., và đồng quản lý tài nguyên đó thông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng là một phương tiện cho người dân trong cộng đồng tham gia vào quá trình ra quyết định về các vấn đề môi trường tại địa phương. Phân loại chất thải rắn sinh hoạt Theo nguồn gốc hình thành, có thể phân biệt các loại rác thải sinh hoạt: Chất thải thực phẩm bao gồm các phần thừa thãi, không ăn được sinh ra trong các khâu chuẩn bị, dự trữ, nấu ăn.
các loại chất thải này phân hủy nhanh trong điều kiện thời tiết nóng ẩm, gây ra các mùi hôi thối khó chịu. Chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói… Theo thành phần vật lý, hóa học: CTRSH khô hay còn gọi là rác vô cơ: gồm các loại phế thải thuỷ tinh, sành sứ, kim loại, giấy, cao su, nhựa, vải, đồ điện, đồ chơi…. CTRSH ướt hay thường gọi là rác hữu cơ: gồm cây cỏ loại bỏ, lá rụng, rau quả hư hỏng, đồ ăn thừa, rác nhà bếp, xác súc vật, phân động vật. Chất thải nguy hại: là những thứ phế thải rất độc hại cho môi trường và con người như: pin, bình ắc quy, hoá chất, thuốc trừ sâu, bom đạn, rác thải y tế, rác thải điện tử.
SVTH: Đỗ Hoàng Kỳ Anh Lớp: Kinh tế - Quản lý tài nguyên và môi trường 54 Chuyên đề tốt nghiệp 14 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường 1. Đặc điểm của chất thải rắn sinh hoạt 1. Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt Thành phần vật lý, hóa học của CTRSH rất khác nhau phụ thuộc vào từng vùng, địa phương, vào các mùa khí hậu trong năm, vào điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác: Thành phần CTRSH ở mỗi khu vực khác nhau đều có tỉ lệ khác nhau.Nhưng nhìn chung thành phần rác thải sinh hoạt chủ yếu ở nước ta là rác thực phẩm chiếm tỉ lệ khoảng 61 - 86 %, còn hầu hết các thành phần còn lại chiếm một tỉ lệ không cao lắm và một phần được thu gom, phân loại để tái sinh, tái chế. Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc tùng địa phương, tính chất tiêu dùng, điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: - Các chất dễ bị phân hủy sinh học: các thực phẩm thừa, cuông, lá rau, lá cây, xác động vật chết, vỏ hoa quả.
- Các chất khó bị phân hủy sinh học: gỗ, cành cây, cao su, túi nilon. - Các chất hoàn toàn không bị phân hủy sinh học: kim loại, thủy tinh, mảnh sành sứ, gạch ngói, vôi vữa khô, sỏi cát, vỏ ốc hến. Tính chất của chất thải rắn sinh hoạt Tính chất vật lý Những tính chất lý học quan trọng của CTRSH bao gồm khối lượng riêng, sự phân bố kích thước, kích thước, độ ẩm, khả năng giữ nước và độ xốp (độ rỗng) của CTR đã bị nén. - Khối lượng riêng: Khối lượng riêng là khối lượng vật chất trên một đơn vị thể tích, tính bằng kg/m3.
Khối lượng riêng của CTRSH sẽ rất khác, mỗi trường hợp khác nhau rác thải sẽ có đặc tính khác nhau: để tự nhiên, không được nén chứa trong các thùng, được nén và chưa trong các thùng. Đặc tính này cũng sẽ khác nếu như các điều kiện của rác khác nhau như: điều kiện tự nhiên, khí hậu và thời gian lưu trữ,.Khối lượng riêng của CTRSH ở các khu đô thị lấy từ xe rác thường giao động trong khoảng 415 - 1778 kg/m3, và giá trị đặc trưng thường vào khoảng 297kg/m3. - Độ ẩm: Độ ẩm của CTR thông thường được biểu diễn theo hai cách tính: tính theo thành phần phần trăm khối lượng ướt hoặc thành phần phần trăm khối lượng khô. - Khả năng giữ nước: Khả năng giữ nước của CTR là tổng lượng nước mà mà SVTH: Đỗ Hoàng Kỳ Anh Lớp: Kinh tế - Quản lý tài nguyên và môi trường 54 Chuyên đề tốt nghiệp 15 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường CTR có thể lưu trữ lại.
Đây là thông số có ý nghĩa quyết định trong việc xác định lượng nước rò rỉ sinh ra từ chất thải phần nước dư vượt quá khả năng tích nước của chất thải sẽ thoát ra ngoài thành nước rò rỉ. - Thẩm thấu của rác nén: Độ thẩm thấu của CTR đã nén là thông số vật lý quan trọng trong kiểm soát hoạt động của chất lỏng và khí. Tính chất hóa học: Tính chất hóa học của CTR sinh hoạt đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp xử lý và thu hồi nguyên vật liệu. Đối với rác hữu cơ dùng làm phân compost hoặc thức ăn gia súc, ngoài thành phần những nguyên tố chính cần phải xác định thành phần của các nguyên tố vi lượng.
- Những tính chất cơ bản: cần phải được xác định đối với các thành phần cháy được và không cháy được trong CTR bao gồm: + Độ ẩm: phần hơi nước có trong chất thải mất đi khi sấy ở nhiệt độ 105°C. + Thành phần các chất cháy bay hơi: phần khối lượng mất đi khi được đun nóng đến nhiệt độ 950°C. + Thành phần carbon cố định: thành phần là vật chất còn lại khi các thành phần khí đã bay hơi. + Tro: phần khối lượng còn lại sau khi được đốt và xử lí trong lò hơi.
- Điểm nóng chảy của tro: Là nhiệt độ mà tại đó tro được hình thành sau quá trình đốt nóng chất thải bị nóng chảy và kết dính tạo thành dạng rắn (xỉ). Nhiệt độ nóng chảy là đặc thù với xỉ từ quá trình đốt CTRSH thường dao động trong khoảng 2000°F - 2200°F (1100°c - 1200°C). - Các nguyên tố trong chất thải rắn sinh hoạt: C (Cacbon), H (Hydro), O (Oxy), N (Nitơ), S (Lưu huỳnh) và Cl (clo). Thông thường các nguyên tố thuộc nhóm Halogen cũng được xác định do các dẫn xuất của Clo hay tồn tại trong thành phần khí thải khi đổ rác.
Kết quả nhằm định lượng các nguyên tố cơ bản này nhằm sử dụng xác định công thức hoá học của thành phần chất hữu cơ có trong CTRSH hay xác định tỉ lệ C/N thích hợp cho quá trình làm phân compost. Chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng: Các phần chất hữu cơ có trong CTRSH thường sử dụng làm nguyên liệu sản xuất ra sản phẩm nhờ quá trình chuyển hóa sinh học thông qua vi khuẩn, vi sinh vật hay nấm như: phân compost, methane, .Số liệu về chất dinh dưỡng và nguyên tố vi lượng có sẵn trong CTRSH giữ vai trò chính nhằm đảm bảo dinh dưỡng cho vi sinh vật cũng như yêu cầu của sản phẩm SVTH: Đỗ Hoàng Kỳ Anh Lớp: Kinh tế - Quản lý tài nguyên và môi trường 54 Chuyên đề tốt nghiệp 16 GVHD: PGS.TS Đinh Đức Trường sau quá trình chuyển hóa sinh học. Tính chất sinh học: Ngoại trừ cao su, như và hầu hết các phần chất hữu cơ của hầu hết CTRSH thường được phân loại như sau: những chất tan được trong nước như đường, tinh bột, amino acid hữu cơ, Hemicellulose là sản phẩm ngưng tụ của đường 5 carbon và đường 6 carbon. Mỡ, sáp và dầu là những este của rượu và acids béo mạch dài Lignin là hợp chất phân tử chứa vòng benzen và các nhóm methoxyl (-OCH3) Lignocellulose Proteins là chuỗi các amino acid.