Tổng quan luận án
Chất thải rắn sinh hoạt đô thị (CTRSHĐT) đang gia tăng nhanh chóng về khối lượng phát sinh và mức độ phức tạp dưới tác động của quá trình tăng trưởng kinh tế, đô thị hóa và gia tăng dân số. Theo các số liệu thống kê quốc tế được tác giả dẫn chứng, lượng CTRSH toàn cầu phát sinh năm 2006 đạt khoảng 2 tỷ tấn/năm và dự báo chạm mốc 5,9 tỷ tấn/năm vào năm 2025 (UN-Habitat, 2010b). Tại Việt Nam, tổng lượng CTRSH năm 2015 là 23 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị chiếm gần 14 triệu tấn/năm (Bộ TN&MT, 2017). Trong khi đó, hệ thống quản lý CTRSHĐT công cộng ở các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng gặp phải những hạn chế nghiêm trọng về nguồn lực tài chính, năng lực kỹ thuật, cơ chế thể chế chồng chéo và chưa phát huy được vai trò của các chủ thể xã hội ngoài nhà nước (Hoornweg, 2000; Bộ TN&MT, 2004).
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: mặc dù chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường đã thúc đẩy các mô hình quản lý dựa vào cộng đồng (QLDVCĐ) ra đời tại Hà Nội từ cuối thập niên 90, nhưng sau thời gian vận hành, các mô hình này bộc lộ nhiều bất cập về sự tham gia của người dân, tính bền vững tài chính và hành lang pháp lý. Các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận riêng lẻ từng khía cạnh kỹ thuật hoặc xã hội, thiếu một khung phân tích toàn diện tích hợp các lý thuyết kinh tế - xã hội và chưa có bộ chỉ tiêu định lượng để đo lường tính bền vững của mô hình QLDVCĐ.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án:
- Mục tiêu tổng quát: Phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng và đề xuất các khuyến nghị chính sách để hoàn thiện mô hình theo hướng bền vững trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Các mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa các cơ sở lý thuyết về quản lý chất thải rắn (QLCTR) tổng hợp và bền vững, lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng và lý thuyết hành động tập thể. Trên cơ sở đó, đề xuất các chỉ tiêu phân tích tính bền vững của mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng.
- Phân tích hiện trạng QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở thành phố Hà Nội; làm rõ điểm mạnh, điểm yếu của các mô hình.
- Áp dụng các chỉ tiêu đề xuất để phân tích tính bền vững của mô hình; tính toán thử nghiệm chỉ số bền vững tổng hợp cho 02 trường hợp nghiên cứu điển hình tại Hà Nội.
- Đánh giá sự sẵn lòng chi trả (WTP) của hộ gia đình nhằm cải thiện hệ thống QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng.
- Đề xuất định hướng và một số khuyến nghị chính sách nhằm vận hành và hoàn thiện mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng ở Hà Nội theo hướng bền vững.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động và mối quan hệ giữa các chủ thể trong mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng (người sử dụng dịch vụ, đơn vị cung ứng dịch vụ, chính quyền địa phương và các tổ chức dựa vào cộng đồng - CBOs).
- Phạm vi nội dung: Tập trung chủ yếu vào phân đoạn thu gom CTRSH phát sinh từ nguồn thải hộ gia đình (chiếm 2/3 tổng lượng CTRSH đô thị). Các phân đoạn vận chuyển, xử lý và tái chế được khảo sát, nhận diện ở mức độ tổng quát.
- Phạm vi không gian: Thành phố Hà Nội, với 02 địa bàn khảo sát điển hình là phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân) và xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2006 – 2016. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa vào tháng 9 và tháng 10 năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:
- Hiện trạng phát sinh, thu gom và xử lý CTRĐT: Các báo cáo của UN-Habitat (2010a), World Bank (2012), Hardoy và cộng sự (2001), Mohee và cộng sự (2015), Dong QingZhang và cộng sự (2010) phản ánh tỷ lệ thu gom CTRĐT ở các nước thu nhập thấp chỉ đạt từ 30% đến 50%, khu vực ven đô chỉ đạt khoảng 10%. Tại Việt Nam, báo cáo của Bộ TN&MT (2004, 2011) và Hideki Wada/JICA (2016) chỉ rõ tỷ lệ thu gom thực tế dao động từ 78% đến 85%, phần còn lại bị thải bỏ không đúng quy định.
- Nguyên nhân và thách thức của hệ thống QLCTRĐT: Suwarno và cộng sự (1997) xác định 8 rào cản lớn tại các đô thị châu Á. Cointreau (1995), Lohse (2003) và Thanh và cộng sự (2011) nhấn mạnh sự thiếu hụt tài chính và cơ chế thu hồi chi phí thấp. Các vấn đề yếu kém về thể chế và năng lực quản lý được phân tích bởi Zurbrugg (2002) và UN-Habitat (2010a). Sự tham gia hạn chế của cộng đồng được chỉ ra bởi Hashmi (2007) và UNDP (2005).
- Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững: MacDonald (1996), Desmond (2006), Armijo và cộng sự (2011), Rabia Lawal Batagarawa (2011), Scheinberg và cộng sự/UN-Habitat (2010b), Wilson và cộng sự (2015) đã phát triển các bộ chỉ tiêu từ 5 đến 18 biến số thuộc các nhóm kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế để lượng hóa hiệu quả quản lý rác thải.
- Nghiên cứu hành vi và sự sẵn lòng chi trả (WTP): Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) và mô hình Probit/Tobit được ứng dụng rộng rãi bởi Altaf và cộng sự (1996), Pek Chuen-Khee và Othman (2010), Wang và cộng sự (2011), Dagnew Hagos và cộng sự (2012), Margaret Banga và cộng sự (2013), Nkansah (2015), Mya (2016). Tại Việt Nam, Nguyễn Văn Song và cộng sự (2011) xác định mức WTP của hộ dân tại huyện Gia Lâm, Hà Nội là 6.000 đồng/người/tháng.
- Các nghiên cứu về QLDVCĐ trong quản lý rác thải: Dựa trên nền tảng quản trị tài nguyên chung của Elinor Ostrom (1990), các tác giả Danilo G. Lapid và cộng sự (1996), Mockler (1998), Bulle (1999), Moningka (2000), Richardson (2003), Mazinyo (2009), Anschütz (1996), Ali Mansoor và cộng sự (1999), Premakumara (2012), Rigasa và cộng sự (2017) đã phân tích các mô hình hợp tác, nhận diện nguyên nhân thất bại do thiếu hụt tài chính và đề xuất tăng cường phân cấp quản trị.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết: Luận án khắc phục sự phân mảnh của các nghiên cứu trước bằng cách tích hợp đồng thời 3 hệ thống lý thuyết (QLCTR tổng hợp, sự tham gia của cộng đồng, hành động tập thể) để xây dựng bộ 17 chỉ tiêu định lượng và tính toán chỉ số tổng hợp bền vững cho mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng dưới góc nhìn cấu trúc thị trường tại Hà Nội.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Lý thuyết Quản lý chất thải rắn tổng hợp và bền vững (ISWM): Tiếp cận hệ thống chất thải qua các phân đoạn kỹ thuật (thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế) gắn liền với các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế, có sự tham gia của các bên liên quan.
- Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng: Sử dụng thang đo 5 cấp độ tham gia của Dower (2004), bao gồm: (1) Được thông báo; (2) Được tham vấn; (3) Cùng thực hiện; (4) Đối tác; (5) Chủ trì.
- Lý thuyết hành động tập thể (Collective Action): Kế thừa luận điểm của Mancur Olson (1965) về hàng hóa công cộng và hiện tượng "kẻ ăn theo", kết hợp 7 nguyên tắc thể chế của Elinor Ostrom (1990) gồm: (1) Xác định ranh giới cộng đồng rõ ràng; (2) Tương thích giữa quy định và điều kiện địa phương; (3) Lựa chọn tập thể; (4) Giám sát; (5) Chế tài xử phạt; (6) Cơ chế giải quyết xung đột; (7) Sự công nhận tối thiểu về quyền tự quản từ phía chính quyền.
- Bản chất kinh tế của dịch vụ CTRSH: Phân loại dịch vụ CTRSH theo khung Cointreau-Levine (1995) và Furedy (1989) dựa trên hai thuộc tính: mức độ loại trừ và mức độ cạnh tranh trong tiêu dùng.
Phương pháp nghiên cứu
- Nguồn dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Các báo cáo hiện trạng môi trường của Bộ TN&MT, số liệu từ Cục Thống kê Hà Nội, Công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO), các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xử lý chất thải rắn thủ đô Hà Nội.
- Dữ liệu sơ cấp: Khảo sát 504 hộ gia đình tại phường Nhân Chính (252 hộ) và xã Sài Sơn (252 hộ) vào năm 2016; kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý địa phương, đại diện Hợp tác xã Thành Công và Hội Phụ nữ xã Sài Sơn.
- Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
- Phương pháp chuyên gia và tổng quan tài liệu để thiết lập hệ thống 17 chỉ tiêu bền vững.
- Phương pháp chuẩn hóa dữ liệu (Min-Max) và tính toán chỉ số tổng hợp bền vững theo quy trình 3 bước:
$$\text{Chỉ số riêng biệt } I_i = \frac{X_i - \text{Min}}{\text{Max} - \text{Min}}$$
Sau đó tính chỉ số thành phần cho từng nhóm và tính trung bình hình học hoặc trung bình số học để ra chỉ số tổng hợp bền vững.
- Phương pháp định giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM) kết hợp mô hình hồi quy kinh tế lượng để lượng hóa mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của hộ gia đình và xác định các biến số tác động.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
Chương này làm rõ các khái niệm về chất thải, chất thải rắn, CTRSHĐT và QLDVCĐ. Tác giả phân tích các nhân tố quyết định sự thành công của mô hình QLDVCĐ theo Steve R. Sohail Khan (2004), gồm đặc trưng cộng đồng, sự tham gia, quyền sở hữu và khung chính sách hỗ trợ.
Luận án phân tích chi tiết 3 mô hình tổ chức QLCTR dựa vào cộng đồng theo Anschütz (1996):
- Mô hình hợp tác giữa Doanh nghiệp tư nhân/Hợp tác xã và Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs).
- Mô hình hợp tác giữa CBOs và Chính quyền địa phương.
- Mô hình kết hợp giữa Tổ chức phi chính phủ (NGOs) và CBOs.
Phân tích bản chất hàng hóa công cộng của dịch vụ thu gom rác thải và làm rõ 7 nguyên tắc thể chế của Ostrom (1990) tạo tiền đề cho việc xây dựng khung đánh giá bền vững ở các chương tiếp theo.
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày toàn bộ quy trình nghiên cứu, thiết kế phiếu điều tra và phương pháp luận xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững gồm 17 chỉ tiêu phân bổ trên 4 khía cạnh:
| Khía cạnh |
Số lượng chỉ tiêu |
Nội dung các chỉ tiêu chính |
| Kinh tế |
4 chỉ tiêu |
Tỷ lệ thu hồi chi phí; Tỷ lệ hộ nộp phí vệ sinh; Mức độ hài lòng về mức phí; Mức độ hài lòng về phương thức thu phí. |
| Xã hội |
6 chỉ tiêu |
Tỷ lệ lao động địa phương; Mức độ hài lòng về dịch vụ; Mức độ được thông tin; Mức độ được tham vấn; Mức độ thảo luận góp ý; Mức độ cùng thực hiện quy định. |
| Môi trường |
3 chỉ tiêu |
Tỷ lệ thu gom CTRSH; Tỷ lệ hộ gia đình được phục vụ; Nhận thức về tác động môi trường của rác thải. |
| Thể chế / Quản lý |
4 chỉ tiêu |
Trách nhiệm thực hiện; Sự rõ ràng về ranh giới dịch vụ; Hoạt động giám sát nội bộ; Cơ chế chế tài và xử phạt vi phạm. |
Chương này cũng thiết lập mô hình kinh tế lượng phân tích WTP với biến phụ thuộc là số tiền sẵn lòng chi trả, các biến độc lập gồm: thu nhập hộ gia đình, trình độ học vấn, độ tuổi, quy mô gia đình, nhận thức môi trường và mức độ hài lòng đối với dịch vụ hiện tại.
CHƯƠNG 3: HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG Ở THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chương 3 khái quát bối cảnh phát sinh CTRSHĐT tại Hà Nội trong giai đoạn 2006 – 2016 và đi sâu đánh giá 02 mô hình điển hình:
- Mô hình tại phường Nhân Chính (quận Thanh Xuân): Đại diện cho mô hình kết hợp giữa Cộng đồng và Hợp tác xã dịch vụ môi trường (HTX Thành Công đảm nhận thu gom, vận chuyển).
- Mô hình tại xã Sài Sơn (huyện Quốc Oai): Đại diện cho mô hình Cộng đồng tự tổ chức (Hội Phụ nữ và các tổ đội vệ sinh thôn xóm tự quản dưới sự chỉ đạo của UBND xã).
So sánh chỉ số thành phần và chỉ số tổng hợp bền vững của 2 mô hình (trích xuất từ Bảng 3.17 và Bảng 3.18):
- Chỉ số Môi trường: Nhân Chính (0,88) | Sài Sơn (0,82)
- Chỉ số Kinh tế: Nhân Chính (0,41) | Sài Sơn (0,38)
- Chỉ số Xã hội: Nhân Chính (0,46) | Sài Sơn (0,62)
- Chỉ số Thể chế/Quản lý: Nhân Chính (0,65) | Sài Sơn (0,44)
=> Chỉ số Tổng hợp Bền vững: Nhân Chính (0,58) | Sài Sơn (0,54)
Kết quả ước lượng WTP từ mẫu điều tra 504 hộ gia đình:
- Mức WTP bình quân tại phường Nhân Chính đạt 35.000 đồng/hộ/tháng (tương đương khoảng 8.750 đồng/người/tháng).
- Mức WTP bình quân tại xã Sài Sơn đạt 25.000 đồng/hộ/tháng (tương đương khoảng 6.250 đồng/người/tháng).
- Hồi quy thực nghiệm khẳng định biến thu nhập ($p < 0,01$) và trình độ học vấn ($p < 0,05$) có tương quan thuận chiều rõ rệt nhất đến mức độ sẵn lòng chi trả của hộ gia đình.
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT ĐÔ THỊ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
Chương 4 đối chiếu kết quả nghiên cứu với Quy hoạch xử lý chất thải rắn Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 và Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội. Tác giả thực hiện phân tích SWOT cho từng mô hình và đề xuất hệ thống khuyến nghị chính sách:
- Về kinh tế: Đề xuất điều chỉnh tăng mức phí vệ sinh môi trường lên mức 9.000 đồng/người/tháng đối với các quận nội thành và 4.500 đồng/người/tháng đối với khu vực huyện ngoại thành đang đô thị hóa; hoàn thiện cơ chế đấu thầu, đặt hàng dịch vụ và hỗ trợ tiếp cận vốn vay ưu đãi cho các tổ chức cộng đồng/HTX.
- Về thể chế và quản lý: Ban hành quy chế phối hợp cụ thể giữa chính quyền cơ sở, đơn vị thu gom và ban tự quản tổ dân phố; hợp pháp hóa vị thế pháp lý của các tổ chức CBOs; thiết lập cơ chế kiểm tra chéo và phân định thẩm quyền xử phạt hành vi xả rác bừa bãi.
- Về xã hội và truyền thông: Nâng cao cấp độ tham gia của người dân từ mức "được thông báo" lên mức "tham vấn" và "cùng thực hiện"; lồng ghép nội dung phân loại rác tại nguồn vào các phong trào tự quản của Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận
- Luận án là công trình tích hợp đồng thời ba khung lý thuyết: Lý thuyết quản lý chất thải rắn đô thị tổng hợp và bền vững (ISWM), Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng và Lý thuyết hành động tập thể để nghiên cứu mô hình QLDVCĐ.
- Xây dựng và chuẩn hóa hệ thống 17 chỉ tiêu thuộc 4 khía cạnh (kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế/quản lý) chuyên biệt cho mô hình QLCTRSHĐT dựa vào cộng đồng, bổ sung các chỉ tiêu về giám sát, chế tài và giải quyết xung đột nội bộ.
- Thiết lập quy trình định lượng tính bền vững thông qua phương pháp tính toán chỉ số tổng hợp bền vững, tạo công cụ so sánh định lượng giữa các mô hình quản lý rác thải cơ sở.
- Đổi mới góc độ phân tích hệ thống QLCTRSHĐT theo cấu trúc thị trường dịch vụ (chủ thể cung ứng - người sử dụng dịch vụ) thay vì phương pháp liệt kê hành chính truyền thống.
Phát hiện thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Lượng hóa cụ thể tính bền vững của 02 mô hình tại Hà Nội: Cả hai mô hình đều đạt điểm cao về môi trường (chỉ số đạt 0,82 – 0,88) nhờ tỷ lệ thu gom rác đạt trên 85%, nhưng đều kém bền vững về mặt kinh tế (chỉ số chỉ đạt 0,38 – 0,41) do tỷ lệ thu hồi chi phí thấp và nguồn thu phí vệ sinh không bù đắp được chi phí vận hành.
- Chỉ ra điểm yếu riêng biệt của từng mô hình: Mô hình HTX (Nhân Chính) hạn chế về khía cạnh xã hội do cộng đồng thụ động (chỉ số xã hội 0,46); mô hình tự quản (Sài Sơn) hạn chế về thể chế và quản lý do thiếu vắng công cụ giám sát và chế tài xử phạt (chỉ số thể chế 0,44).
- Chứng minh mức WTP thực tế của người dân (25.000 – 35.000 đồng/hộ/tháng) cao hơn mức phí vệ sinh quy định tại thời điểm nghiên cứu, cung cấp căn cứ thực nghiệm để đề xuất tăng giá dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt lên gấp 1,5 lần (đạt mức 9.000 đồng/người/tháng đối với nội thành và 4.500 đồng/người/tháng đối với ven đô).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế về phạm vi nội dung: Luận án tập trung chuyên sâu vào phân đoạn thu gom CTRSH có nguồn gốc từ hộ gia đình; các phân đoạn vận chuyển trung gian, xử lý chôn lấp/đốt rác, tái chế quy mô công nghiệp và rác thải từ cơ quan, trường học, chợ thương mại chỉ được phân tích khái quát.
- Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu điển hình thực địa mới dừng lại ở 02 địa bàn đại diện (phường Nhân Chính và xã Sài Sơn), chưa bao quát toàn bộ các mô hình tự quản tại các huyện ngoại thành xa hoặc các khu đô thị mới có tính chất cư dân phức tạp hơn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng kiểm chứng bộ chỉ tiêu và chỉ số tổng hợp bền vững tại nhiều tỉnh, thành phố khác có điều kiện kinh tế - xã hội đa dạng; đi sâu phân tích chuỗi giá trị và sự tham gia của khu vực phi chính thức (người thu mua phế liệu, đồng nát) trong phân đoạn tái chế CTRSHĐT dựa vào cộng đồng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Luận án là tài liệu tham khảo trong các chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế môi trường, Quản lý tài nguyên và Đô thị học; cung cấp khung phân tích đa tiêu chí và phương pháp ước lượng WTP bằng mô hình CVM kết hợp kinh tế lượng.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ TN&MT, Sở TN&MT, UBND các cấp tại Hà Nội): Cung cấp luận cứ thực nghiệm phục vụ việc điều chỉnh biểu mức giá dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt, hoàn thiện cơ chế phân cấp và ban hành chính sách khuyến khích xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường cơ sở.
- Đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ môi trường, HTX và CBOs: Giúp nhận diện các mắt xích yếu kém trong quản trị nội bộ, phương thức tổ chức thu phí và xây dựng cơ chế phối hợp giám sát cộng đồng nhằm duy trì hoạt động tự chủ và bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án lại lựa chọn phân đoạn thu gom CTRSHĐT để tập trung nghiên cứu sâu?
Tác giả lựa chọn phân đoạn thu gom vì ba lý do: (1) Thu gom là phân đoạn đầu tiên của chu trình quản lý, ảnh hưởng trực tiếp và rõ ràng nhất đến sức khỏe người dân và cảnh quan môi trường; (2) Thực tế cho thấy thu gom là khâu mà người dân và cộng đồng có khả năng tham gia trực tiếp và mạnh mẽ nhất; (3) Phân đoạn này ít gặp rào cản phức tạp về kỹ thuật công nghệ cao hay vốn đầu tư lớn, giúp cộng đồng và doanh nghiệp nhỏ có đủ năng lực cung ứng dịch vụ trên thị trường.
2. Sự khác biệt cốt lõi về mặt thể chế giữa mô hình tại phường Nhân Chính và xã Sài Sơn là gì?
Mô hình tại phường Nhân Chính vận hành theo cơ chế kết hợp giữa cộng đồng và đơn vị chuyên trách (HTX Thành Công), trong đó HTX chịu trách nhiệm pháp lý và phương tiện kỹ thuật thu gom, còn người dân đóng vai trò khách hàng trả phí; điểm hạn chế là tính tham gia và giám sát của cư dân bị mờ nhạt. Ngược lại, mô hình xã Sài Sơn vận hành theo hình thức cộng đồng tự quản thông qua Hội Phụ nữ và các tổ thu gom địa phương với sự hỗ trợ của UBND xã; điểm hạn chế là thiếu tư cách pháp nhân độc lập, năng lực quản lý yếu và thiếu chế tài xử phạt người vi phạm.
3. Kết quả khảo sát mức sẵn lòng chi trả (WTP) của 504 hộ gia đình cho thấy điều gì?
Mức WTP bình quân của hộ gia đình đạt 35.000 đồng/hộ/tháng tại phường Nhân Chính và 25.000 đồng/hộ/tháng tại xã Sài Sơn. Kết quả này phản ánh người dân sẵn sàng chi trả mức phí cao hơn mức thu thực tế của chính quyền tại thời điểm nghiên cứu nếu chất lượng dịch vụ được cải thiện. Biến số thu nhập và trình độ giáo dục của chủ hộ là hai yếu tố có ảnh hưởng thuận chiều và có ý nghĩa thống kê cao nhất tới mức WTP.
4. Bốn khía cạnh cấu thành bộ chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của mô hình QLDVCĐ gồm những gì?
Bộ chỉ tiêu gồm 17 chỉ tiêu chia thành 4 nhóm:
- Nhóm Kinh tế (4 chỉ tiêu): Tỷ lệ thu hồi chi phí, tỷ lệ nộp phí, sự hài lòng về mức phí và phương thức thu phí.
- Nhóm Xã hội (6 chỉ tiêu): Tỷ lệ lao động địa phương, mức độ hài lòng về dịch vụ, mức độ thông tin, tham vấn, góp ý và cùng thực hiện.
- Nhóm Môi trường (3 chỉ tiêu): Tỷ lệ thu gom rác, tỷ lệ hộ phục vụ và nhận thức môi trường.
- Nhóm Thể chế/Quản lý (4 chỉ tiêu): Trách nhiệm thực hiện, ranh giới dịch vụ, cơ chế giám sát và chế tài xử lý vi phạm.
Kết luận
Luận án của tác giả Ngô Thanh Mai đã giải quyết vấn đề quản lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị dựa vào cộng đồng thông qua việc tích hợp các khung lý thuyết kinh tế và quản trị hiện đại. Bằng việc xây dựng bộ 17 chỉ tiêu định lượng và áp dụng quy trình tính toán chỉ số tổng hợp bền vững cho 02 mô hình điển hình tại Hà Nội, luận án đã chỉ ra bức tranh thực trạng với điểm mạnh về tỷ lệ thu gom môi trường và điểm nghẽn về tính bền vững tài chính cùng năng lực thể chế. Các kết quả khảo sát sự sẵn lòng chi trả (WTP) trên 504 hộ gia đình cung cấp căn cứ thực tiễn cho việc đề xuất điều chỉnh phí vệ sinh và hoàn thiện các chính sách xã hội hóa bảo vệ môi trường đô thị theo hướng bền vững.