Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Thực trạng pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa ở Việt Nam.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA 1. Một số vấn đề lý luận về quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa 1. Khái niệm chất lượng và quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa 1. Khái niệm chất lượng sản phẩm, hàng hóa Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là một khái niệm đã xuất hiện từ lâu và được sử dụng rất phổ biến trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
Tuy nhiên, hiểu như thế nào là chất lượng sản phẩm, hàng hóa lại là vấn đề không đơn giản. Thuật ngữ này được khái quát bằng hàng trăm các định nghĩa khác nhau phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những góc độ nghiên cứu khác nhau và tuỳ theo mục tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất lượng xuất phát từ sản phẩm, từ người sản xuất hay từ đòi hỏi của thị trường. Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó.
Theo quan niệm này, chất lượng sản phẩm đồng nghĩa với các thuộc tính hữu ích của sản phẩm. Nhà sản xuất lại quan niệm chất lượng sản phẩm là sự phù hợp và tuân thủ đúng những tiêu chuẩn, những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật đã được đặt ra từ trước. Chất lượng sản phẩm theo quan điểm này chỉ thể hiện mối quan tâm của nhà sản xuất đối với việc sản phẩm đạt được những tiêu chuẩn được đặt ra. 6 Xuất phát từ nền kinh tế thị trường, những khái niệm chất lượng sản phẩm xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả… Đã có hàng trăm định nghĩa về chất lượng sản phẩm theo quan niệm này được đưa ra bởi các tác giả khác nhau.
Đại diện cho nhóm này có một số các định nghĩa tiếp cận từ nhu cầu của người tiêu dùng và từ mặt giá trị: Từ nhu cầu của người tiêu dùng, tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu - European Organization For Quality Control (EOQC) cho rằng: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”[13]. Còn Philip Crosby trong quyển “Chất lượng là thứ cho không” đã diễn tả chất lượng như sau: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”. Với cách tiếp cận từ mặt giá trị, chất lượng sản phẩm được đặt trong mối quan hệ giữa lợi ích thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với chi phí bỏ ra để mua sản phẩm: “Chất lượng là cái mà khách hàng phải trả đúng với cái họ nhận được.”[16] Nhìn chung, mọi định nghĩa tuy có khác nhau về câu chữ nhưng tựu chung đều nêu lên bản chất cuối cùng mà cả người sản xuất và người tiêu dùng đều quan tâm hướng tới đó là sự phù hợp với yêu cầu. Thể hiện điều này, quan điểm đầy đủ hiện nay về chất lượng được Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO (International Organization for Standardization) định nghĩa: “Chất lượng là mức độ của một tập hợp các thuộc tính vốn có của đối tượng đáp ứng các yêu cầu” [14].
Yêu cầu ở đây được hiểu là những nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu chung hay bắt buộc. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 của Việt Nam cũng giải thích thuật ngữ “chất lượng sản phẩm, hàng hóa” như quan điểm trên: “Sản phẩm là kết quả của quá trình sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng. Hàng hoá là sản phẩm được đưa vào thị trường, tiêu dùng thông qua trao đổi, mua bán, tiếp thị… Chất lượng sản phẩm, hàng 7 hóa là mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.” (Điều 3) Từ những điểm chung có thể đưa ra định nghĩa sau về chất lượng sản phẩm, hàng hóa: Chất lượng sản phẩm, hàng hóa là mức độ thỏa mãn của một tập hợp các thuộc tính của sản phẩm, hàng hóa đối với các yêu cầu. Khái niệm quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng.
Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Hiện nay tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về quản lý chất lượng: A.Robertson, một chuyên gia người Anh về chất lượng cho rằng “Quản lý chất lượng được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình và sự phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất, đảm bảo sản xuất có hiệu quả và thoả mãn nhu cầu người tiêu dùng.Feigenbaum, nhà khoa học người Mỹ: “Quản lý chất lượng là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong một tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì và nâng cao chất lượng.” [12] Còn theo tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO 9000 “Quản lý chất lượng là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức về chất lượng.”[14] Tuy tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về chất lượng, song nhìn chung có những điểm giống nhau như: Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp (hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội và tâm lý) của các chủ thể có trách nhiệm quản lý. Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất 8 lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường. Như vậy, có thể rút ra định nghĩa chung về quản lý chất lượng như sau: Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là hoạt động của một chủ thể nhằm định hướng phát triển, nâng cao và kiểm soát chất lượng sản phẩm hàng hóa.
Với định nghĩa này, “quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa” được hiểu theo nghĩa rộng, tức là không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính trị. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định: “Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam. Quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hoá.” (Điều 5) Theo đó, Luật sử dụng thuật ngữ “quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa” để nói đến trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh. Khi đề cập đến trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 dùng thuật ngữ “quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá”.
Theo cách hiểu này, quản lý chất lượng chỉ là hoạt động của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh là người tổ chức và thực hiện việc sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hàng, cung cấp dịch vụ. Đây được coi là nghĩa hẹp của quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. 9 Khóa luận sử dụng thuật ngữ “quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa” với nghĩa rộng, bao gồm quản lý chất lượng của người sản xuất, kinh doanh và quản lý chất lượng của nhà nước. Vai trò của quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa có vai trò rất quan trọng đối với xã hội, doanh nghiệp và người tiêu dùng.
Đối với xã hội: Việc quản lý chất lượng là nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hóa, hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh và người tiêu dùng, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động. Hơn nữa, quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa có vai trò định hướng và bảo đảm cho hoạt động chất lượng có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ. Muốn tăng cường khả năng cạnh tranh thì phải nâng cao được năng suất và chất lượng.
Sản phẩm hàng hóa Việt Nam phải có chất lượng mang tầm quốc tế và khu vực. Với định hướng này, nhà nước tạo điệu kiện để doanh nghiệp cải tạo, đổi mới hệ thống công nghệ sản xuất, trang thiết bị đo lường, kiểm nghiệm để đáp ứng đòi hỏi của thị trường. Cũng từ đòi hỏi của thị trường, không chỉ sản phẩm, hàng hóa phải đảm bảo yêu cầu chất lượng mà bản thân hệ thống quản lý sản xuất các sản phẩm, hàng hóa đó cũng phải đảm bảo chất lượng. Đối với doanh nghiệp: Quản lý chất lượng cho phép doanh nghiệp xác định đúng hướng sản phẩm cần cải tiến, thích hợp với những mong đợi của khách hàng cả về tính hữu ích và giá cả.
Đồng thời, quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa đảm bảo 10 tạo ra các sản phẩm có chất lượng, tạo uy tín, niềm tin của người tiêu dùng đối với doanh nghiệp. Người tiêu dùng chỉ đến với doanh nghiệp khi sản phẩm của doanh nghiệp có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ. Sản xuất là khâu quan trọng tạo thêm giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa do đó nếu như việc quản lý chất lượng sản phẩm tốt sẽ tạo ra những sản phẩm có lợi cho người dùng và giúp doanh nghiệp thu được lợi nhuận cao. Tăng cường quản lý chất lượng sẽ giúp cho việc xác định đầu tư đúng hướng, khai thác quản lý sử dụng công nghệ, con người có hiệu quả hơn.
Đây là lý do vì sao quản lý chất lượng được đề cao trong những năm gần đây.