CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN VÀ QLNN VỀ CHẤT LƯỢNG NÔNG SẢN 1. Khái niệm, vai trò và yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nông sản 1. Khái niệm về chất lượng nông sản 1. Khái niệm về nông sản Theo các Hiệp định và Nguyên tắc WTO (Hiệp định Nông nghiệp) thì, nông sản bao gồm các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp, không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp.
Còn theo Wikipedia thì, nông sản là hàng hóa thông qua gây trồng và phát triển của cây trồng. Cũng có tác giả cho rằng, nông sản là những sản phẩm hàng hóa được làm ra từ tư liệu sản xuất là đất. Khác với các khái niệm trên, tại Khoản 7 Điều 3 Nghị định 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ quy định: “Nông sản là sản phẩm của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và diêm nghiệp”. Tuy nhiên, ở góc độ nghiên cứu đề tài này, tác giả chọn khái niệm: Nông sản là các loại sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp, không bao gồm các sản phẩm thuộc lĩnh vực thủy sản, lâm nghiệp và diêm nghiệp.
Tức là, nông sản chỉ bao gồm các loại sản phẩm hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: Lúa gạo, bột mỳ, sữa, động vật tươi sống (trừ lĩnh vực thủy sản), cà phê, hạt điều, hồ tiêu, chè, rau, củ, quả tươi,. (sản phẩm nông nghiệp cơ bản); bánh mì, bơ, dầu ăn, thịt,. (sản phẩm phái sinh) và các sản phẩm chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, thuốc lá, nước ngọt, bia, rượu,. Khái niệm về chất lượng Hiện nay, do trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều cách tiếp cận về khái niệm chất lượng; cụ thể: - Theo quan điểm triết học, chất lượng là tính xác định bản chất nào đó của sự vật, hiện tượng, tính chất mà nó khẳng định nó chính là cái đó chứ không phải là cái khác hoặc cũng nhờ nó mà nó tạo ra một sự khác biệt với một khách thể khác.
Chất lượng của khách thể không quy về những tính chất riêng biệt của nó mà gắn 8 chặt với khách thể như một khối thống nhất bao chùm toàn bộ khách thể. Theo quan điểm này thì chất lượng mang trong nó một ý nghĩa hết sức trừu tượng về sự hoàn hảo, tốt đẹp, nó không phù hợp với thực tế đang đòi hỏi, nhất là hoạt động sản xuất hàng hóa. - Theo Từ điển tiếng Việt phổ thông, thì chất lượng là tổng thể những thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)., làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác. Theo cách định nghĩa này, thì chất lượng được đánh giá thông qua các đặc trưng, đặc tính riêng biệt của sự vật (sự việc); đây cũng là một định nghĩa chung chung, trừu tượng.
- Tiếp cận chất lượng theo nhà sản xuất: “Chất lượng là sự tuân thủ những yêu cầu kinh tế, yêu cầu kỹ thuật và bản thiết kế lập ra”. Với quan niệm này, nhà sản xuất gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận nhu cầu sử dụng, tiêu thụ của người tiêu dùng; đúng hơn, với nhà sản xuất thì chất lượng là theo thiết kế đề ra nhưng đôi khi lại không phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng. - Tiếp cận chất lượng theo người tiêu dùng và một số nước: “Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu và mục đích của người tiêu dùng”; “chất lượng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của người sử dụng (Tiêu chuẩn của Pháp - NF X50 109) hay "Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng" (Tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu - EOQC). Với cách tiếp cận này, chất lượng được thể hiện thông qua sự thỏa mãn nhu cầu, mục đích của người tiêu dung đối với một sản phẩm, nó không phản ánh được đặc điểm, đặc trưng hay đặc tính của sản phẩm; đây là một hạn chế, vì nó tách rời các tính chất bên trong (khách quan) với yếu tố bên ngoài (chủ quan).
- Để khắc phục hạn chế, tình trạng trên, Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO đã đưa ra định nghĩa về chất lượng sau: "Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng), tạo cho thực thể đó có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn". Cách tiếp cận này đang được các nước trên thế giới chấp nhận và sử dụng rộng rãi (hai mặt bên trong và ngoài của thực thể được phản ánh). Ở Việt Nam, khái niệm chất lượng được hiểu theo Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa ISO, đó là toàn bộ các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và dự định (TCVN ISO 8402: 1999) hay 9 chất lượng là tập hợp các tính chất của một thực thể (đối tượng), tạo cho thực thể có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 5814 : 1994). Khái niệm về chất lượng nông sản Từ những khái niệm về chất lượng nêu trên, xét ở khía cạnh lĩnh vực nông sản, có thể khái quát: Chất lượng nông sản là tổng hợp các tính chất, thuộc tính cơ bản của nông sản, tạo cho nông sản khả năng thỏa mãn những nhu cầu của người tiêu dùng bao gồm những nhu cầu mong muốn được nêu ra và tiềm ẩn.
Với khái niệm này; chúng ta có thể nhận thấy chất lượng nông sản có một số đặc điểm sau: Thứ nhất, chất lượng là thuộc tính, tính chất đặc trưng cơ bản của nông sản và được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu nhất định, phù hợp với công dụng. Thứ hai, chất lượng nông sản là một phạm trù kinh tế, kỹ thuật, xã hội nói lên tính hữu ích của nông sản, nhằm phục vụ mục đích sử dụng của người tiêu dùng; do vậy, nó phụ thuộc vào thị yếu của người tiêu dùng trong từng thời kỳ nhất định. Thứ ba, chất lượng của nông sản được tạo thành ngay từ khâu thiết kế, xây dựng phương án sản phẩm nông sản đến sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Trong quá trình đó, khâu sản xuất là khâu quan trọng, quyết định nhất tạo nên chất lượng nông sản và khâu tiêu dùng lại là khâu phản ánh chất lượng nông sản đầy đủ nhất.
Thứ tư, có ba chủ thể liên quan đến chất lượng nông sản, đó là nhà sản xuất, nhà nước và người tiêu dùng. Với nhà sản xuất, mục tiêu là đáp ứng yêu cầu về chất lượng nhưng phải mang lại lợi nhuận cao; người tiêu dùng luôn yêu cầu chất lượng cao gắn với giá rẽ và nhà nước là người quyết định thế nào là một sản phẩm/nông sản có chất lượng với những tiêu chí, tiêu chuẩn cụ thể mà cả nhà sản xuất, nhà phân phối, người tiêu dùng phải tuân thủ, đồng thời đưa ra các công cụ, chế tài (luật, nghị định) để giám sát, quản lý chất lượng nông sản. Các yếu tố cấu thành chất lượng nông sản Chất lượng nông sản được cấu thành từ nhiều yếu tố và được thể hiện trên tất cả các khâu từ nguyên liệu đến sản xuất, phân phối, tiêu thụ; tuy nhiên, ta có thể chia thành các yếu tố cấu thành sau: 1. Chất lượng dinh dưỡng Theo quan niệm về nông sản nêu trên, thì nông sản là loại sản phẩm hàng hóa với vai trò cung cấp chất dinh dưỡng cho con người, do vậy khi nói đến nông 10 sản người ta nghĩ đến chất lượng dinh dưỡng, chất lượng cho nhu cầu của sự phát triển.
Chất lượng dinh dưỡng nông sản là hàm lượng dinh dưỡng (%) chứa trong nông sản và được cấu thành 02 yếu tố: - Yếu tố số lượng: Là năng lượng tiềm tàng của nông sản tồn tại dưới dạng các hợp chất hóa học. Năng lượng này cung cấp cho con người một hàm lượng dinh dưỡng theo nhu cầu của sự phát triển về thể chất, trí tuệ và sức khỏe. - Về chất lượng: Là sự cân bằng về thành phần dinh dưỡng trong nông sản theo theo tiêu chuẩn nhất định, nó thể hiện sự có mặt của các chất vi lượng, nhóm chất cần thiết đáp ứng nhu cầu sử dụng của con người. Theo hai yếu tố trên, chất lượng dinh dưỡng là loại chất lượng quan trọng nhất đối với nông sản, có thể lượng hóa được bằng các phương pháp định lượng theo tiêu chuẩn quy định (thành phần chứa bao nhiêu %); tuy nhiên, một nông sản có hàm lượng chất dinh dưỡng cao (thỏa mãn nhiều nhất các yếu tố dinh dưỡng như nước, năng lượng, các muối khoáng, vitamin, các chất có hoạt tính sinh học khác,.) chưa phải là tốt nhất và ngược lại, vì nó còn phụ thuộc vào mục đích sử dụng của con người và văn hóa, phong tục tập quán.
Chất lượng vệ sinh Nói đến chất lượng vệ sinh là nói đến tính chất an toàn của nông sản và có thể hiểu, nông sản không được chứa các chất độc, hại (kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, kháng sinh dùng trong chăn nuôi, các độc tố sinh học, ký sinh trùng.) đến sức khỏe con người (chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm) cũng như gây ô nhiễm môi trường thì đó là nông sản có chất lượng vệ sinh. Đây là một yêu cầu quan trọng và bắt buộc đối với sản phẩm nông sản. Chất lượng vệ sinh của nông sản bị ảnh hưởng nhiều yếu tố cả bản chất hóa học bên trong lẫn môi trường bên ngoài (sinh học, vật lý, cách bảo quản, vận chuyển, đóng gói,.) hoặc do sự kết hợp giữa yếu tố bên trong và bên ngoài. Chất lượng vệ sinh của nông sản có thể tiêu chuẩn hóa bằng việc quy định về một ngưỡng giới hạn cho phép, không được vượt quá dẫn đến độc hại, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và môi trường; đặc biệt, tiêu chuẩn về ngưỡng này phải được quy định bằng một công cụ pháp luật cụ thể và áp dụng chung, rộng rãi.
Ngày nay, có một số người sẵn sàng đánh đổi chất lượng dinh dưỡng để để 11 lấy chất lượng vệ sinh (chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm) với nhiều lý do như: Môi trường đất, không khí, nước bị ô nhiễm nhiều nơi; việc sử dụng quá nhiều thuốc bảo vệ thực vật, chất hóa học trong sản xuất nông nghiệp; việc chế biến, bảo quản, bày bán nông sản chưa thật sự an toàn và kiểm soát chặt chẽ,. Chất lượng thị hiếu (chất lượng cảm quan) Là chất lượng được đánh giá bằng mức độ ưa thích của con người trên cơ sở các giác quan cảm tính.