Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN HỖ TRỢ HỌC SINH CHO GIÁO VIÊN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Những nghiên cứu ở nước ngoài chủ yếu tập trung vào vấn đề BD GV ở những góc độ khác nhau, trong đó ít nhiều đề cập đến BD NL TVHT người học.S, Roeders nhấn mạnh, GV phải là những người tự chủ việc học tập của mình và được phát triển các NL dạy học chứ không phải là ghi nhớ thông tin. GV phải được phát triển các kĩ năng tư vấn, hỗ trợ và quản lý lớp học chứ không phải chỉ là người dạy học, truyền thụ kiến thức.
Hình thức BDGV cũng thay đổi. Dutto khuyến cáo, các mô hình đào tạo và BD truyền thống cần phải được loại bỏ mà thay vào đó là các hình thức BD tích cực, phù hợp hơn với các điều kiện phát triển của công nghệ và yêu cầu đổi mới giáo dục trong thế kỉ 21 [dẫn theo 17]. Tác giả Chang, Downes cho rằng phương pháp BD thì rất đa dạng: thuyết trình, minh họa, thảo luận nhóm, thí nghiệm và các hoạt động thực hành. Theo Tennant và nhiều tác giả khác, giáo viên là những người học người lớn có những đặc điểm học tập khác với sinh viên hay HS nên khi bồi dưỡng cần chú ý các yếu tố sau: + Giáo viên là người học người lớn có kinh nghiệm công tác và các kinh nghiệm này ảnh hưởng đến việc học tập của họ.
Họ thường liên hệ kinh nghiệm đã biết với những kiến thức mới; + Người lớn chỉ học khi họ thấy việc học tập có lợi cho công việc của họ và học tập tích cực khi giải quyết các vấn đề thực tiễn; + Người lớn học thông qua các hoạt động của bản thân; + Người lớn phát triển tốt về tư duy nhưng hạn chế về trí nhớ. Đưa ra các nhiệm vụ học tập đòi hỏi tư duy giúp người lớn lĩnh hội kiến thức tốt hơn là việc giảng giải, bắt họ ghi nhớ; 7 + Người lớn hay xấu hổ không muốn bộc lộ các yếu kém của bản thân và thích được khen ngợi nhiều hơn. Ra các bài tập phù hợp là một trong những cách thức hữu hiệu để hạn chế các yếu kém này; + Người lớn học tập có hiệu quả nếu sử dụng nhiều PPDH khác nhau [dẫn theo 17]. Trên thế giới, các quốc gia đều coi trọng hoạt động BD GV và gắn hoạt động này với công cuộc đổi mới giáo dục không ngừng diễn ra.
Tại Singapore, mục tiêu giáo dục là nhằm phát triển toàn diện nhân cách HS, giúp họ trở thành những công dân phát triển toàn diện: phong phú về kiến thức, kinh nghiệm, NL và phát huy tối đa khả năng của bản thân về các mặt đạo đức, trí tuệ, thẩm mĩ, thể chất, xã hội. Để thực hiện mục tiêu đó, Singapore đã phát triển một hệ thống toàn diện để tuyển chọn, đào tạo và phát triển GV đại trà và GV cốt cán. Một trong những yếu tố then chốt của hệ thống đó là hoạt động BD NL nghề nghiệp cho giáo viên. Tất cả các giáo viên của Singapore đều được đào tạo về sư phạm tại một địa chỉ duy nhất: Viện Giáo dục Quốc gia thuộc trường Đại học Công nghệ Nanyang.
Hằng năm các GV cần phải tham gia ít nhất 100 giờ đào tạo BD, với nhiều hình thức khác nhau [dẫn theo 28]. Ở Malaysia, GV được coi là lực lượng quan trọng giúp đạt được những mục tiêu nâng cao chất lượng GD và phát triển con người. Sự cần thiết phát triển NL cho giáo viên được Malaysia đề cập đến vào đầu năm 1995 với một hội đồng đặc biệt được Bộ Giáo dục nước này thành lập để nghiên cứu chuyên môn và phát triển nghề nghiệp cho GV. Hoạt động phát triển chuyên môn cho GV được xem như là một phương tiện nhằm nâng cao NL GV.
Các chương trình bồi dưỡng GV được thiết kế nhằm nâng cao kĩ năng, NL chuyên môn và trình độ học thuật trong lĩnh vực của GV, đồng thời, nhằm giúp giáo dục bám sát với sự phát triển của thời đại, của thực tiễn và chuẩn bị cho GV trước những thách thức của thời kì toàn cầu hóa. Ở Thái Lan, trước đây, các khoá đào tạo, BD phát triển tay nghề GV thường được tổ chức tập trung ở một thành phố. Muốn tham gia, GV phải nghỉ dạy. Cách tổ chức như vậy được cho là không hiệu quả.
Bộ Giáo dục Thái Lan đã đưa ra hình thức đào tạo, BD được tiến hành ngay tại các cơ sở GD. Đó là hoạt động đào tạo dựa vào nhà trường. Theo hình thức đào tạo này, chương trình đào tạo gồm bốn dự án đã được 8 tiến hành: Dự án giáo viên quốc gia, Dự án GV chủ chốt, Dự án nghiên cứu và triển khai các hình mẫu đào tạo dựa vào nhà trường, và Dự án hỗ trợ đào tạo dựa vào nhà trường. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy các mô hình đào tạo mới này rất có hiệu quả với GV [28].
Những nghiên cứu ở trong nước Tác giả Trần Bá Hoành (2004), trong bài viết "Chất lượng GV", tác giả đã đưa ra cách tiếp cận chất lượng GV từ các khía cạnh như đặc điểm lao động của người GV, sự thay đổi chức năng của người GV trước yêu cầu đổi mới giáo dục, mục tiêu sử dụng GV, chất lượng từng GV và ĐNGV. Theo tác giả, có 3 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng GV, đó là: quá trình đào tạo - sử dụng - BD GV, hoàn cảnh, điều kiện lao động sư phạm của GV, ý chí thói quen và NL tự học của GV. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra 3 giải pháp cho vấn đề đào tạo, BD GV: phải đổi mới công tác đào tạo, công tác bồi dưỡng và đổi mới việc sử dụng GV [22]. Báo cáo kết quả nghiên cứu của Đề tài: "Đánh giá thực trạng triển khai chương trình BD thường xuyên cho GV phổ thông" do tác giả Cao Đức Tiến làm Chủ nhiệm đề tài, đã đánh giá việc BD thường xuyên theo chu kỳ đã tạo ra được một thói quen tự học tập, tự bồi dưỡng trong toàn thể GV trên phạm vi cả nước.
Nhu cầu được BD thường xuyên (đào tạo tiếp sau đào tạo ban đầu) đã trở thành ý thức tự giác trong mỗi GV, nhằm cập nhật hoá kiến thức, từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục [31]. Luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục của Vũ Hoàng Chương với đề tài: "Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả BD nghiệp vụ sư phạm cho GV trường THCS huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai" đã đề xuất các giải pháp như xây dựng quy hoạch BD GV, các biện pháp cho công tác BD thường xuyên, bồi dưỡng thay SGK, tự BD. Đẩy mạnh công tác thanh tra GV. Chứng nhận lại trình độ nghề nghiệp và nâng chuẩn lại GV.
Có kế hoạch cụ thể sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ việc dạy. Đồng thời với những biện pháp trên là sự đổi mới thực sự về chế độ, chính sách đãi ngộ GV trong thời gian BD, tự bồi dưỡng [9]. Dưới dạng sách chuyên khảo, cuốn Hỗ trợ HS, sinh viên thiệt thòi: Một hướng đi của Nguyễn Thị Ngọc Thúy đã tập hợp những bài viết về dự án "Những nẻo đường đến đại học" với hệ thống chính sách ưu đãi cho HS, sinh viên thiệt thòi ở Việt Nam. 9 Trong đó, trình bày các mô hình và bài học hỗ trợ sinh viên thiệt thòi; các hoạt động hỗ trợ HS sinh viên thiệt thòi tiếp cận giáo dục đại học; chiến lược và giải pháp hỗ trợ sinh viên thiệt thòi tại các trường đại học.
Ở thể loại luận án, tác giả Trần Thị Lan Thu trong Các dịch vụ hỗ trợ sinh viên đào tạo từ xa của Viện Đại học mở Hà Nội đã đánh giá các dịch vụ hỗ trợ sinh viên đối với đào tạo từ xa theo phương thức e-learning tại Viện Đại học mở Hà Nội. Từ đó, xây dựng mô hình hỗ trợ sinh viên học phương thức e-learning, giúp sinh viên học tập thuận tiện, đạt kết quả cao. Cuốn sách Kỹ năng tư vấn học tập - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Nguyễn Thị Út Sáu đã giới thiệu về nhu cầu tư vấn học tập của sinh viên ở trường đại học. Trên cơ sở đó, cuốn sách đi vào trình bày kỹ năng tư vấn và phát triển kỹ năng tư vấn học tập cho giảng viên ở các trường đại học.
Như vậy, vấn đề BD NL cho GV đã được nghiên cứu một số khía cạnh về vai trò, chức năng của công tác BD,. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về BD NL TVHT HS cho GV. Đặc biệt, cho đến thời điểm này, theo những tài liệu mà chúng tôi đã tiếp cận, nghiên cứu, các tác giả chưa đề cập đến các vấn đề quản lý BD NL TVHT HS cho GV PTDTNT trung học cơ sở. Chúng tôi xem những công trình nghiên cứu có liên quan là tài liệu tham khảo quý báu trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của C. Ông xem quản lý là kết quả tất yếu của quá trình phát triển lao động xã hội. Ông viết: "Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng" [7].
Theo từ điển Giáo dục học: "Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [34] Tác giả Nguyễn Bá Dương cho rằng: “Quản lý là sự tác động qua lại một cách tích cực giữa chủ thể và đối tượng quản lý qua con đường có tổ chức; là sự tác động 10 điều khiển, điều chỉnh tâm lý và hành động của các đối tượng quản lý cùng hướng vào việc hoàn thành những mục tiêu nhất định của tập thể và xã hội” [9]. Tác giả Đỗ Hoàng Toàn cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến chuyển của môi trường” [29].