Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC SỐ CHO GIẢNG VIÊN CÁC HỌC VIỆN, TRƯỜNG SĨ QUAN THEO HƯỚNG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI HIỆN ĐẠI 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu về năng lực số và năng lực số của giảng viên Năng lực số mặc dù còn là vấn đề khá mới, nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm tiếp cận nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý dưới nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Roche (2017), trong nghiên cứu về “Đánh giá vai trò của năng lực số trong chương trình chuyển tiếp bậc đại học các chương trình tiếng anh cho mục đích học thuật”, đã đề cập đến khái niệm “trình độ số then chốt”, là những kỹ năng và hoạt động dẫn đến sự ra đời của các văn bản số, cho phép và thúc đẩy thu thập thông tin từ các văn bản số đa phương tiện trên toàn thế giới, trong đó nhấn mạnh rằng “khả năng truy cập, đánh giá phản biện, sử dụng và tạo lập thông tin thông qua phương tiện số trong việc kết nối với người khác và cộng đồng” phải được cân nhắc trong định nghĩa trình độ số.
Nghiên cứu của tổ chức UNESCO (2018) đã thực nghiệm đánh giá 47 khung năng lực số của các quốc tại nhiều châu lục; đồng thời, tiến hành đối sánh với khung DigComp của châu Âu và đi đến kết luận: Các năng lực mô tả trong 47 khung năng lực số đều có thể ánh xạ tới khung DigComp (Jashari, Fetaji, Nussbaumer & Gütl, 2021). Trên cơ sở đó, tổ chức UNESCO tiến hành bổ sung vào khung DigComp một số năng lực thành phần để xây dựng nên khung tham chiếu toàn cầu DLGF (Law, Woo, de la Torre & Wong, 2018) gồm: Vận hành thiết bị và phần mềm; năng lực liên quan đến nghề nghiệp và giải quyết vấn đề một năng lực về tư duy tính toán. Nghiên cứu của tác giả Sánchez-Caballé và cộng sự (2020) đã tổng hợp và đưa ra các thành phần chính của năng lực số, bao gồm: (1) Năng lực thông tin: Khả năng tìm kiếm, đánh giá, lưu trữ và hiểu biết về thông tin; (2) Năng lực giao tiếp, cộng tác và kết nối: Sử dụng các công cụ kỹ thuật số trên nền tảng trực tuyến; (3) 6 Năng lực tạo nội dung số: Sản xuất nội dung với nhiều định dạng khác nhau; (4) Năng lực công nghệ: Kiến thức và khả năng cần thiết để sử dụng các công cụ kỹ thuật số trong làm việc, học tập và trong cuộc sống hàng ngày; (5) Năng lực giải quyết các vấn đề đạo đức: Đặc biệt là của giảng viên các trường đại học khi sử dụng công nghệ trong cuộc sống hàng ngày; (6) Chiến lược cộng tác: Khả năng áp dụng các năng lực số khác để đạt được thành công cá nhân và nghề nghiệp. Tác giả Zhao và cộng sự (2021), khi nghiên cứu về năng lực số trong không gian giáo dục đại học, đã chỉ ra rằng khung DigComp đưa ra các thành phần của năng lực số bao gồm: (1) Thông tin và dữ liệu: Khả năng tìm kiếm, đánh giá và sử dụng thông tin và dữ liệu; (2) Giao tiếp và cộng tác: Sử dụng công cụ kỹ thuật số để giao tiếp và làm việc cùng nhau; (3) Sáng tạo nội dung số: Tạo ra nội dung số với nhiều định dạng khác nhau; (4) An toàn: Đảm bảo an toàn khi sử dụng công nghệ và thông tin số.
(5) Giải quyết vấn đề: Khả năng sử dụng kỹ năng số để giải quyết các vấn đề. Ngoài ra, 6 nghiên cứu khác đã tập trung vào các khía cạnh bổ sung, bao gồm công nghệ, nhận thức và đạo đức. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tấn Đại và Marquet Pascal (2019) đã phác thảo một mô hình năng lực số nhằm đánh giá năng lực số của giảng viên các trường đại học tại Việt Nam. Mô hình này bao gồm các thành phần sau: (1) Xác định nhu cầu thông tin: Nhận diện vấn đề cần giải quyết, xác định phạm vi và tính phù hợp của nguồn thông tin; (2) Chọn phương pháp và công cụ tìm kiếm: Lựa chọn các phương pháp và công cụ tìm kiếm thông tin phù hợp, đánh giá, chọn lọc thông tin tìm kiếm được, và quản lý thông tin thu thập được một cách khoa học; (3) Hiệu dụng thông tin: Gồm 3 thành tố: Sử dụng hiệu quả các thông tin đã tìm thấy, sắp xếp và lưu trữ thông tin; sử dụng các công cụ trên máy tính để làm việc nhóm; soạn thảo tài liệu, trình bày ý tưởng dưới dạng nói hay viết.
Các khía cạnh này rất tương đồng với lĩnh vực “Năng lực thông tin và dữ liệu” của khung DigComp, với ba năng lực thành phần tương ứng. Nghiên cứu của Trần Đức Hòa và Đỗ Văn Hùng (2021) đã đề xuất một khung năng lực số dành cho giảng viên các trường đại học Việt Nam, bao gồm 7 thành tố: Vận hành thiết bị và phần mềm; năng lực thông tin và dữ liệu; giao tiếp và 7 hợp tác trong môi trường số; sáng tạo nội dung số; an ninh và an toàn trên không gian mạng; học tập và phát triển kỹ năng số; năng lực số liên quan đến nghề nghiệp. Các thành tố này khá tiệm cận với các lĩnh vực năng lực số trong khung DLGF của UNESCO, được phát triển kế thừa từ nền tảng khung DigComp. Có thể thấy rằng, nghiên cứu về các dấu hiệu nhận biết năng lực số thể hiện qua khái niệm năng lực số đã thu hút được rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học và các văn bản chính sách.
Mặc dù khái niệm năng lực số được tiếp cận từ nhiều góc nhìn khác nhau và trở nên khá đa dạng, nhưng về cơ bản, có sự tương đồng lớn trong nội hàm khái niệm này giữa các nhà nghiên cứu. Mỗi nghiên cứu thường tập trung vào một hoặc một số khía cạnh cụ thể của năng lực số. Trong đó, khái niệm của tác giả Ferrari (2012) được UNESCO đánh giá là bao trùm nhất, được UNESCO lựa chọn để kế thừa khi xây dựng khung tham chiếu toàn cầu DLGF. Các nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ giảng viên Rokenes và Krumsvik (2016) đã theo dõi quá trình bồi dưỡng năng lực số của các giảng viên các trường đại học tập sự nhằm tìm ra phương pháp hỗ trợ giảng viên các trường đại học giảng dạy thông qua công nghệ.
Nhóm tác giả kết luận rằng, đội ngũ đào tạo giảng viên các trường đại học cần phải có tư duy hệ thống về năng lực số và tích hợp công nghệ trong đào tạo, đồng thời phải biết phản tư về ứng dụng công nghệ vào hoạt động giảng dạy. Với trọng tâm tương tự, Esteve-Mon và cộng sự (2016) phát triển một mô hình 3D nhằm đánh giá năng lực số của giảng viên các trường đại học tập sự. Mô hình này dựa trên nghiên cứu thiết kế giáo dục với mục đích hỗ trợ giảng viên các trường đại học tập sự bồi dưỡng năng lực số trong các hoạt động giảng dạy trong tương lai. Một chủ đề quan trọng khác được các tác giả quan tâm là các phương thức đo lường năng lực số của giảng viên các trường đại học.
Đo lường năng lực số là điểm khởi đầu quan trọng cho quá trình bồi dưỡng nếu muốn thiết kế các phương pháp tiếp cận toàn diện và hệ thống (Sillat, Tammets & Laanpere, 2021). Hiện nay, có nhiều mô hình và công cụ khác nhau được phát triển bởi các quốc gia, khu vực, các tổ chức quốc tế và thương mại để đo lường và chẩn đoán năng lực số (Çebi & Reisoglu, 2020; Jashari & cộng sự, 2021). 8 Năm 2019, để chuẩn bị cho việc xây dựng bộ công cụ đo lường năng lực số cho khung tham chiếu toàn cầu DLGF (Laanpere, 2019), UNESCO tiến hành xem xét các nghiên cứu trước đó, bao gồm: (1) Nghiên cứu của Carretero và cộng sự (2017), xem xét 22 công cụ hiện có được sử dụng để đo lường năng lực số ở nhiều quốc gia Châu Âu khác nhau; (2) Nghiên cứu của Sparks và cộng sự (2016) đánh giá 12 công cụ, quan tâm đến thiết kế đánh giá chi tiết cho từng thành phần của năng lực số và thảo luận về sự thay đổi trong bản thiết kế của các công cụ đo lường nhằm đáp ứng các bài kiểm tra năng lực số với các mục đích khác nhau; và (3) Nghiên cứu của Siddiq, Hatlevik, Olsen, Throndsen và Scherer (2016), tìm hiểu 30 công cụ khác nhau, đã giải quyết sự khác biệt về độ tin cậy và tính hợp lệ. Kế thừa các kết quả nghiên cứu trên, UNESCO lựa chọn 44 công cụ để nghiên cứu sâu, đa phần các công cụ đã được thử nghiệm trên các cỡ mẫu lớn.
Từ đây, UNESCO đưa ra một số nhận định và khuyến nghị cho bộ công cụ đo lường năng lực số của khung tham chiếu toàn cầu DLGF như bộ công cụ nên triển khai online và nên được phát triển theo các phương thức đánh giá khác bên cạnh phương thức tự đánh giá. Tuy vậy, hiện UNESCO vẫn chưa đưa ra bộ thang đo và các hướng dẫn để xây dựng công cụ đo lường năng lực số theo khung DLGF. Nghiên cứu của Zhao và cộng sự (2021) về năng lực số trong giáo dục đại học đã chỉ ra một khoảng trống quan trọng: các dữ liệu tự đánh giá thường không phản ánh chính xác mức độ thực sự của năng lực số. Do đó, nghiên cứu đề xuất các nghiên cứu tiếp theo nên áp dụng các công cụ đo lường dựa trên trải nghiệm thực tiễn về năng lực số để hiểu rõ hơn về năng lực số của từng nhóm đối tượng.
Hơn nữa, việc kiểm chứng độ giá trị và tin cậy của các bộ công cụ đo lường cũng cần được tiếp tục hoàn thiện. Ngoài ra, việc thiết kế các nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, được cho là có thể mang lại kết quả toàn diện hơn về năng lực số trong giáo dục đại học, so với việc chỉ áp dụng một phương pháp nghiên cứu duy nhất như hiện nay. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Mai Văn Trinh và cộng sự (2017) cho rằng vấn đề bồi dưỡng năng lực ICT cho đội ngũ tại các cơ sở giáo dục hiện nay là vô cùng quan trọng để đáp ứng các yêu cầu mới của giáo dục. Tuy nhiên, việc triển 9 khai ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) trong giáo dục, đặc biệt là trong hoạt động bồi dưỡng giảng viên các trường đại học, hiện nay vẫn chưa đồng bộ và xuyên suốt.