Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC NGHỀ NGHIỆP CHO GIÁO VIÊN MẦM NON 1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 1. Nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực nghề nghiệp cho giáo viên mầm non 1. Năng lực nghề nghiệp của giáo viên mầm non (1) Trên thế giới Năng lực nghề nghiệp của GV nói chung, NLNN của GVMN đã trở thành những tiêu chuẩn định lượng không chỉ đối với chất lượng ĐNGV mầm non mà chi phối chất lượng GDMN.
Xu hướng tiếp cận NLNN đối với GV xuất phát từ triết lý trong những thập niên gần đây rằng: GD tiến bộ khi đối tượng người học trở thành trung tâm của quá trình GD. Đối với GDMN, GD trẻ phải lấy nhu cầu của trẻ làm đối tượng như câu nói của Ignacio Estrada trở thành châm ngôn “Nếu trẻ con không thể học theo cách chúng ta dạy, có lẽ ta nên dạy theo cách chúng học”. Để lấy trẻ làm trung tâm trong quá trình GD, GVMN phải có năng lực cốt lõi với những tiêu chuẩn nhất định. Mối liên hệ chặt chẽ giữa NLNN của GVMN với chất lượng GDMN là một cuộc tranh luận trong chương trình nghị sự của chính sách quốc tế, cho thấy một phong trào hướng tới chuyên nghiệp hóa lực lượng lao động giảng dạy MN (Nasiopoulou & Panagiota, 2020).
Với xu hướng này, Luận án Nghề GVMN trong điều kiện thay đổi, năng lực và ý định trong thực hành sư phạm của Nasiopoulou đã nghiên cứu về NLNN của GVMN với mục tiêu “khám phá mối quan hệ giữa năng lực chuyên môn của GVMN và những cân nhắc của họ về thực hành sư phạm xung quanh các chính sách và diễn ngôn xã hội, trong việc tạo điều kiện tối ưu cho sức khỏe, học tập và phát triển của trẻ. Theo tác giả, trong những điều kiện thay đổi, “GVMN cần hành động một cách chuyên nghiệp và hiện thực hóa kiến thức lý thuyết đã thu được của họ trong thực tiễn sư phạm và trên cơ sở của các câu hỏi phát sinh từ các điều kiện tại chỗ”. 10 Vấn đề NLNN của GVMN phù hợp với sự thay đổi cũng được nghiên cứu trong một trường hợp khác. Trong bài Xây dựng năng lực để cải thiện trường học hay tạo ra năng lực học tập? Một cảnh quan thay đổi, Stoll và Riley (1999) cho rằng “Xây dựng năng lực cho GV là một nỗ lực cực kỳ phức tạp.
Thêm vào đó là những thách thức đối với việc cải thiện trường học trong thập kỷ qua và chúng ta thấy một bức tranh đang thay đổi nhanh chóng về ý nghĩa thực sự của việc nâng cao năng lực ĐNGV để cải tiến trường học hiện nay”. Trong đó, tác giả nhấn mạnh đến NLNN của GVMN tạo ra sự khác biệt của GVMN, mà mục tiêu của nó “có nghĩa là xây dựng năng lực cần vượt ra ngoài việc tập trung vào việc hỗ trợ cải tiến giảng dạy để nhấn mạnh việc học tập”. Như vậy, ngoài những yếu tố của năng lực mà GVMN được đào tạo, bồi dưỡng và tích lũy kinh nghiệm thì năng lực tạo ra sự khác biệt như là một yêu cầu của đổi mới GD về phát huy tính tích cực sáng tạo trong từng đứa trẻ (Stoll & Riley, 1999). Trong một nghiên cứu về quy mô nhóm trẻ đối với chất lượng GD, Wiliams và cộng sự (2016) cũng cho rằng “Ngoài kiến thức lý thuyết về sự học tập và phát triển của trẻ, GVMN cần phải có kiến thức nội dung và NLSP để thực hiện các hoạt động sư phạm có chất lượng cao và hiện thực hóa các lĩnh vực nội dung chương trình giảng dạy trong hoạt động hàng ngày của họ”.
Cùng với quan điểm này, Ubran (2008) lập luận rằng: GVMN cần phải hành động một cách chuyên nghiệp và hiện thực hóa kiến thức lý thuyết đã thu được của họ trong thực tiễn sư phạm, trong mối quan hệ qua lại với tất cả các tác nhân tham gia vào hệ thống và trên cơ sở của các câu hỏi phát sinh từ các điều kiện tại chỗ. Năng lực nghề nghiệp của GVMN được nghiên cứu ở từng khía cạnh khác nhau. Nghiên cứu về năng lực GVMN trong việc QL lớp học có trẻ khuyết tật tham gia GD hòa nhập, Luận án Niềm tin, kiến thức và thực hành của GVMN liên quan đến QL lớp học của Debra Michal và Drang (2011) đã tiếp cận vấn đề trên cơ sở sinh thái học về mô hình phát triển con người và khả năng phù hợp của chúng đối với trẻ mẫu giáo. Tác giả đã khẳng định rằng “Niềm tin, kiến thức và thực hành của GV liên quan đến QL lớp học cũng đặc biệt nổi bật đối với lĩnh vực GD đặc biệt” (tr.1) và nghiên cứu nó trong bối cảnh “ngày càng có nhiều trẻ mắc các khuyết tật 11 nhận được các dịch vụ GD trong môi trường hòa nhập”, đòi hỏi “nhận thức của GV về hành vi của chúng là điều cần thiết để hiểu các thành phần của hòa nhập thành công” (tr.
Những nghiên cứu của tác giả nhằm chứng minh rằng nếu được trang bị đầy đủ kiến thức và có nhiều kinh nghiệm rút ra từ trải nghiệm trong trường MN giúp người GVMN tạo nên niềm tin, điều kiện hoàn thành nhiệm vụ GD của mình thông qua các hoạt động QL lớp học có nhiều trẻ khuyết tật tham gia GD hòa nhập. Cũng nghiên cứu về năng lực GVMN đối với GD đặc biệt, Luận án Thái độ của GVMN đối với việc giới thiệu GD hòa nhập ở các trường MN của Chính phủ Malaysia của Ramli (2017) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức và sự hiểu biết về GD đặc biệt của GVMN trong hoạt động nghề nghiệp ở các cơ sở GDMN. Trong nghiên cứu của mình, tác giả này nêu ra yêu cầu của đối tượng nghiên cứu đáp ứng mục tiêu “Nghiên cứu này đã nhấn mạnh tầm quan trọng của kiến thức và sự hiểu biết về GD hoà nhập, kỹ năng và khả năng của GV cũng như các giá trị và cam kết cần thiết từ mọi cơ quan. Các khuyến nghị giải quyết các cải tiến đối với sự phát triển chuyên môn của GV tại chức và GV trước khi phục vụ GD cũng như nâng cấp CSVC trường học.
Quan trọng nhất, nghiên cứu này cho thấy cần phải nâng cao nhận thức và tăng cường kiến thức về GD hoà nhập và GD đặc biệt thông qua tăng cường hợp tác giữa phụ huynh, chuyên gia, nhà trường và xã hội”. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, bên cạnh “Chương trình STEM dành cho GDMN” do Nhóm công tác STEM MN đưa ra (Early Childhood STEM Working Group, 2017); nhiều người cũng đề xuất đưa giáo dục STEM vào các trường MN và đặt ra vấn đề về năng lực GVMN để thực hiện nhiệm vụ này (Clements & Sarama, 2016; McClure & cộng sự, 2017; Moomaw & Davis, 2010; Soylu, 2016; Torres, Crespo & cộng sự, 2014). Trong bài Một góc nhìn khác về giáo dục STEM mầm non: Giáo dục STEM và quan điểm kĩ thuật, Karademir và Yıldırım (2021) đã có một nghiên cứu thử nghiệm trên 30 GVMN sắp được tuyển dụng nhằm xác định quan điểm của họ để từ đó có thể nhìn nhận năng lực của họ và đề xuất nội dung thêm vào chương trình bồi dưỡng GVMN đối với những người chưa được đào tạo lĩnh vực này. Khẳng định tầm quan trọng của kiến thức chuyên môn, các tác giả này cho rằng “Thái độ của GV trong lớp và hiệu quả của bản thân phụ thuộc vào mức độ trang bị kiến thức của 12 họ” (tr.
Như vậy, việc trang bị kiến thức cho GVMN bằng bất cứ hình thức nào cũng phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn giảng dạy và nhu cầu học tập hoặc vui chơi của trẻ em. Trong bài viết này tác giả nhằm làm rõ mối quan hệ của hai khái niệm “năng lực sư phạm” và “năng lực nghề nghiệp”, từ đó đưa ra định nghĩa “khung năng lực được định nghĩa là tập hợp các năng lực cụ thể cần thiết cho GV trong bối cảnh GD phát triển bền vững, được gắn kết với nhau theo một cách tiếp cận tích hợp”. Khi tách biệt được hai khái niệm nói trên thì có nhiều vấn đề nảy sinh trong hoạt động nghề nghiệp trở thành NLNN, trong đó cảm xúc xã hội được xem như là một yếu tố của NLNN GVMN. Trong bài Tổng quan nghiên cứu về năng lực cảm xúc - xã hội của GVMN, Nguyễn Thiều Dạ Hương (2021) đã đưa ra khái niệm “Năng lực cảm xúc – xã hội của GVMN là một thuộc tính cá nhân của mỗi GVMN nhằm thể hiện khả năng có ý thức hơn đối với cảm xúc của bản thân, biết cách tạo ra mối quan hệ hài hòa với trẻ và những người khác, đưa ra các quyết định đúng đắn, có trách nhiệm và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả phù hợp với môi trường GD tại trường MN”.
Theo tác giả, năng lực cảm xúc xã hội của GVMN ảnh hưởng đến nghề nghiệp như: sức khỏe tính thần, lòng yêu nghề, chất lượng mối quan hệ các bên liên quan, tổ chức và QL lớp học, phát triển kĩ năng xã hội cho trẻ. Cấu trúc năng lực cảm xúc xã hội có 04 thành phần với 08 biểu hiện: tải trọng tâm lý và khả năng đối phó, cường độ cảm xúc và khả năng điều chỉnh cảm xúc, kỹ năng QL cảm xúc và khả năng đối diện với áp lực công việc, kỹ năng điều chỉnh cảm xúc và kỹ năng QL mối quan hệ. Cũng nhận thức về vấn đề này, Lê Thị Luận (2022) cũng có một nghiên cứu mang tính đề xuất cho đào tạo NLNN cho sinh viên GDMN, đó là Một số giải pháp đào tạo GVMN theo hướng tiếp cận năng lực cảm xúc - xã hội. Dựa vào CNN của GVMN để khảo sát thực trạng QL bồi dưỡng GV theo CNN và đánh giá chất lượng ĐNGV mầm non, gồm các nghiên cứu của: Tác giả Nguyễn Thị Cẩm Đan (2019); Phan Vũ Ngọc Anh, (2018); Trần Công Phong & 13 cộng sự (2019)… Các nghiên cứu trên đã đánh giá thực trạng QL đối với công tác phát triển GVMN trong những điều kiện khác nhau.
Khung năng lực GVMN không chỉ có những tiêu chuẩn đặc thù đối với GVMN ở Việt Nam mà còn có sự tiếp cận với khu vực. Tác giả Lê Thị Luận (2021) đề xuất Đào tạo GVMN dựa trên khung năng GVMN khu vực ĐNA, giới thiệu khung năng lực GVMN khu vực ĐNA gồm 4 nhóm năng lực với 07 năng lực trọng tâm, từ đó khuyến nghị việc vận dụng từng nhóm năng lực này vào chương trình đào tạo GVMN tại các trường Cao đẳng, Đại học của Việt Nam.