Quản lí bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở khu vực miền núi phía bắc theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông

Tìm hiểu về quản lí bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên THCS khu vực miền núi phía Bắc. Nghiên cứu đổi mới giáo dục phổ thông hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản Lí Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2021

233
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quản Lý Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học THCS

Quá trình dạy học là sự tương tác giữa hoạt động dạy của giáo viên (GV) và hoạt động học của học sinh (HS). GV đóng vai trò trung tâm, tổ chức và hướng dẫn hoạt động học của HS. Chất lượng dạy học phụ thuộc lớn vào năng lực dạy học (NLDH) và năng lực sư phạm của GV. Luật Giáo dục năm 2005 khẳng định vai trò quyết định của nhà giáo trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Để đáp ứng yêu cầu này, GV cần không ngừng bồi dưỡng, hoàn thiện phẩm chất và NLDH, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Vấn đề bồi dưỡng GV được đặt lên hàng đầu trong tất cả các cơ sở giáo dục phổ thông (GDPT).

1.1. Vai trò của Giáo Viên trong Quá Trình Đổi Mới Giáo Dục

Giáo viên là nhân tố then chốt trong quá trình đổi mới giáo dục. Họ không chỉ truyền đạt kiến thức mà còn là người định hướng, khơi gợi tiềm năng của học sinh. Để đáp ứng yêu cầu của chương trình GDPT mới, giáo viên cần phải liên tục cập nhật kiến thức, kỹ năng và phương pháp dạy học. Theo Nghị quyết số 29/NQ-TW, việc phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý (CBQL) là yếu tố then chốt để đáp ứng yêu cầu đổi mới GDĐT.

1.2. Tầm Quan Trọng của Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học cho Giáo Viên

Bồi dưỡng NLDH cho GV không chỉ là việc nâng cao kiến thức chuyên môn mà còn là phát triển các kỹ năng sư phạm, kỹ năng mềm, và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) vào dạy học. Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS miền núi là một nhu cầu cấp thiết để giúp họ tiếp cận với những phương pháp giảng dạy tiên tiến và phù hợp với đặc điểm của học sinh vùng cao. Việc bồi dưỡng cần được thực hiện một cách bài bản, khoa học và có hệ thống.

II. Thách Thức Quản Lý Bồi Dưỡng Năng Lực Miền Núi Phía Bắc

Khu vực miền núi phía Bắc đối mặt với nhiều thách thức về kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Địa hình hiểm trở, giao thông khó khăn hạn chế cơ hội tiếp cận thông tin và giao lưu học hỏi của GV. Phần lớn GV được đào tạo từ các trường CĐSP địa phương, ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin mới và phát triển chuyên môn. Thực trạng giáo dục THCS miền núi phía Bắc đòi hỏi những giải pháp đặc thù và phù hợp.

2.1. Hạn Chế về Cơ Sở Vật Chất và Trang Thiết Bị Dạy Học

Cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học ở các trường THCS miền núi phía Bắc còn nhiều thiếu thốn và lạc hậu. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học, đặc biệt là trong việc ứng dụng CNTT vào dạy học. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ hơn nữa từ nhà nước và các tổ chức xã hội để cải thiện tình trạng này.

2.2. Khó Khăn trong Tiếp Cận Thông Tin và Giao Lưu Học Hỏi

Địa hình hiểm trở và giao thông khó khăn gây khó khăn cho GV trong việc tiếp cận thông tin và giao lưu học hỏi với đồng nghiệp ở các vùng miền khác. Cần tăng cường các hoạt động bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng trực tuyến, và tạo điều kiện cho GV tham gia các hội thảo, tập huấn chuyên môn.

2.3. Bất cập trong chương trình bồi dưỡng và đánh giá sau bồi dưỡng

Chương trình bồi dưỡng còn mang tính đại trà, chưa đi sâu vào nghiên cứu chọn lọc các nội dung bồi dưỡng trọng tâm có tính cấp bách, chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới giáo dục đang đặt ra trong giai đoạn phát triển giáo dục sắp tới. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động bồi dưỡng NLDH cho GV THCS ở nhiều địa phương còn mang tính hình thức, qua loa chưa khoa học, hợp lí và nên hiệu quả chưa cao.

III. Cách Xây Dựng Kế Hoạch Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học THCS

Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng (KHBD) là bước quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục THCS miền núi. KHBD cần phù hợp với thực tiễn địa phương và định hướng đổi mới giáo dục phổ thông 2018. Cần xác định rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức bồi dưỡng, đồng thời huy động các nguồn lực để thực hiện KHBD hiệu quả. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Sở GDĐT, Phòng GDĐT, và các trường THCS.

3.1. Xác định Mục Tiêu và Nội Dung Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học Cụ Thể

Mục tiêu bồi dưỡng cần SMART (Specific, Measurable, Achievable, Relevant, Time-bound). Nội dung bồi dưỡng cần bám sát chương trình GDPT 2018, tập trung vào các nội dung như: dạy học theo định hướng phát triển năng lực, dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực. Nội dung bồi dưỡng phải đi vào thực tế, hỗ trợ giáo viên giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình dạy học. Chương trình bồi dưỡng giáo viên THCS đổi mới giáo dục cần được thiết kế một cách khoa học và bài bản.

3.2. Lựa Chọn Phương Pháp và Hình Thức Bồi Dưỡng Năng Lực Phù Hợp

Phương pháp bồi dưỡng cần đa dạng, linh hoạt, và phát huy tính chủ động của GV. Các phương pháp có thể sử dụng như: tập huấn, hội thảo, sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng trực tuyến, nghiên cứu bài học. Hình thức bồi dưỡng có thể là: bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng theo nhóm, bồi dưỡng cá nhân. Cần lựa chọn phương pháp và hình thức bồi dưỡng phù hợp với nội dung bồi dưỡng và đối tượng GV.

3.3. Huy Động Nguồn Lực và Giám Sát Đánh Giá Quá Trình Bồi Dưỡng

Cần huy động các nguồn lực từ nhà nước, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, và cộng đồng để thực hiện KHBD. Cần có cơ chế giám sát, đánh giá quá trình bồi dưỡng một cách khách quan, công bằng, và minh bạch. Kết quả giám sát, đánh giá cần được sử dụng để điều chỉnh và cải thiện KHBD.

IV. Ứng Dụng Sinh Hoạt Chuyên Môn Bồi Dưỡng Dạy Học THCS

Sinh hoạt chuyên môn (SHCM) là một trong những hình thức bồi dưỡng hiệu quả, giúp GV trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ kiến thức và kỹ năng, và cùng nhau giải quyết các vấn đề trong dạy học. SHCM cần được tổ chức thường xuyên, bài bản, và có sự tham gia tích cực của tất cả GV. SHCM cần tập trung vào các nội dung như: phân tích chương trình, xây dựng kế hoạch bài dạy, thiết kế hoạt động học tập, đánh giá học sinh. Bồi dưỡng thường xuyên giáo viên THCS hiệu quả thông qua SHCM.

4.1. Xây Dựng Kế Hoạch và Tổ Chức Sinh Hoạt Chuyên Môn Định Kỳ

Kế hoạch SHCM cần được xây dựng dựa trên nhu cầu của GV và mục tiêu của nhà trường. SHCM cần được tổ chức định kỳ, ví dụ mỗi tuần một lần hoặc mỗi tháng một lần. SHCM cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung và hình thức. Cần tạo không khí cởi mở, thân thiện, để GV tự tin chia sẻ và học hỏi.

4.2. Tập Trung vào Giải Quyết Các Vấn Đề Thực Tế trong Dạy Học

SHCM cần tập trung vào giải quyết các vấn đề thực tế mà GV đang gặp phải trong quá trình dạy học. Ví dụ, GV có thể chia sẻ kinh nghiệm về việc áp dụng các phương pháp dạy học mới, hoặc thảo luận về cách giải quyết các tình huống sư phạm khó khăn. SHCM cần mang tính thực tiễn cao, giúp GV áp dụng được kiến thức vào thực tế dạy học.

4.3. Đánh Giá Hiệu Quả và Cải Tiến Hoạt Động Sinh Hoạt Chuyên Môn

Cần đánh giá hiệu quả của SHCM thông qua việc thu thập phản hồi từ GV. Phản hồi có thể được thu thập thông qua các phiếu khảo sát, phỏng vấn, hoặc quan sát. Kết quả đánh giá cần được sử dụng để cải tiến hoạt động SHCM, giúp SHCM ngày càng hiệu quả hơn.

V. Bí Quyết Phát Triển Năng Lực Tự Bồi Dưỡng Giáo Viên THCS

Năng lực tự bồi dưỡng (TB) là yếu tố then chốt giúp GV không ngừng phát triển chuyên môn và đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục. GV cần chủ động tìm kiếm thông tin, học hỏi kinh nghiệm, và tự đánh giá bản thân. Nhà trường cần tạo điều kiện để GV TB, ví dụ bằng cách cung cấp tài liệu, tạo cơ hội tham gia các khóa học, và khuyến khích GV chia sẻ kinh nghiệm. Phát triển chuyên môn giáo viên THCS miền núi cần chú trọng năng lực tự học, tự bồi dưỡng.

5.1. Xây Dựng Kế Hoạch Tự Bồi Dưỡng Năng Lực Dạy Học Cá Nhân

Mỗi GV cần xây dựng kế hoạch TB cá nhân, dựa trên nhu cầu của bản thân và mục tiêu của nhà trường. Kế hoạch TB cần cụ thể, khả thi, và có thời gian biểu rõ ràng. GV cần xác định rõ những kiến thức, kỹ năng cần bồi dưỡng, và những nguồn lực cần thiết.

5.2. Tận Dụng Các Nguồn Thông Tin và Cơ Hội Học Tập

GV cần tận dụng các nguồn thông tin như sách báo, tạp chí khoa học, internet, các khóa học trực tuyến, và các hội thảo, tập huấn chuyên môn. GV cần chủ động tìm kiếm thông tin, sàng lọc thông tin, và áp dụng thông tin vào thực tế dạy học.

5.3. Tự Đánh Giá và Điều Chỉnh Quá Trình Tự Bồi Dưỡng

GV cần tự đánh giá quá trình TB của bản thân, dựa trên các tiêu chí cụ thể. GV cần xác định những điểm mạnh, điểm yếu, và những vấn đề cần cải thiện. GV cần điều chỉnh kế hoạch TB, nếu cần thiết, để đạt được mục tiêu đề ra.

VI. Tương Lai Quản Lý Bồi Dưỡng và Đổi Mới Giáo Dục THCS

Quản lý bồi dưỡng NLDH cho GV THCS miền núi phía Bắc cần tiếp tục đổi mới để đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục. Cần tăng cường ứng dụng CNTT trong bồi dưỡng, xây dựng hệ thống bồi dưỡng trực tuyến, và tạo ra môi trường học tập mở cho GV. Cần chú trọng bồi dưỡng năng lực sư phạm, năng lực nghiên cứu khoa học, và năng lực đổi mới sáng tạo cho GV. Giải pháp nâng cao năng lực giáo viên THCS miền núi cần mang tính hệ thống và bền vững.

6.1. Ứng Dụng CNTT trong Quản Lý và Bồi Dưỡng

CNTT có thể được sử dụng để quản lý thông tin về GV, theo dõi quá trình bồi dưỡng, và cung cấp tài liệu học tập trực tuyến. CNTT cũng có thể được sử dụng để tổ chức các khóa học trực tuyến, các hội thảo trực tuyến, và các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm.

6.2. Xây Dựng Môi Trường Học Tập Mở và Chia Sẻ Kinh Nghiệm

Cần tạo ra môi trường học tập mở, nơi GV có thể tự do chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, và phát triển chuyên môn. Cần khuyến khích GV tham gia các cộng đồng học tập trực tuyến, các nhóm nghiên cứu, và các dự án hợp tác.

6.3. Đổi Mới Đánh Giá và Công Nhận Kết Quả Bồi Dưỡng

Cần đổi mới phương pháp đánh giá kết quả bồi dưỡng, chú trọng đánh giá năng lực thực tế của GV, thay vì chỉ đánh giá kiến thức lý thuyết. Cần có cơ chế công nhận kết quả bồi dưỡng, ví dụ bằng cách cấp chứng chỉ, tăng lương, hoặc thăng chức.

12/05/2025
Quản lí bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên trung học cơ sở khu vực miền núi phía bắc theo định hướng đổi mới giáo dục phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC CHO GIÁO VIÊN TRUNG HỌC CƠ SỞ KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Nhà giáo là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình dạy học và NLDH của GV quyết định tới chất lượng giáo dục. Bồi dưỡng GV là một nhiệm vụ trọng tâm của các nhà trường, của ngành GDĐT.

Đã có nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài về bồi dưỡng GV, bồi dưỡng NLDH cho GV và công tác quản lí nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng NLDH cho GV. Nghiên cứu về năng lực dạy học của giáo viên 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Năng lực (Ability) là một trong những hướng nghiên cứu quan trọng trong các công trình nghiên cứu về GDĐT ở các công trình nước ngoài. Hầu hết, các nghiên cứu đều đi tới khẳng định NLDH của GV là một yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục ở nhà trường.

Ủy ban quốc tế về Giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO (1997) đã khẳng định: “GV là yếu tố quyết định hàng đầu đối với chất lượng giáo dục. Do đó, muốn phát triển giáo dục thì trước hết và trên hết phải phát triển đội ngũ GV về cả số lượng và chất lượng” [117]. Có nhiều tác giả đã và đang đưa ra các nghiên cứu về NLDH của GV trên nhiều khía cạnh khác nhau, cụ thể như sau: Các tác giả Linda Darling-Hammond, Maria E. Hyler và Madelin Gardner trong cuốn “Effective Teacher Professional Development” (Phát triển chuyên môn GV hiệu quả) đã nêu lên định nghĩa về NLDH của GV khi thực hiện công tác chuyên môn trong nhà trường.

Theo đó, NLDH của GV là khả năng tạo ra sự hiệu quả trong việc xây dựng bài học và truyền đạt những kế hoạch dạy học tới người học, nhằm mục đích rằng họ (người học) có thể đạt được những mong muốn về những trải nghiệm độc đáo của học tập. Song các tác giả chưa đi sâu làm rõ các đặc 11 điểm của NLDH của GV. Do đó các kết luận sư phạm của cuốn sách còn mang tính chất chung chung, chưa áp dụng được nhiều trên thực tế trường học [112]. Các tác giả Gerli Silm và Marios Papaevripidou, trong nghiên cứu “Teachers’ Readiness to Use Inquiry-based Learning: An Investigation of Teachers’ Sense of Efficacy and Attitudes toward Inquiry-based Learning” (Sự sẵn sàng của GV về nhu cầu học tập - Điều tra về ý thức, thái độ của GV đối với nhu cầu học tập cá nhân) đã chỉ ra rằng NLDH của GV có những điểm đặc thù khác hẳn cho với các dạng NL khác, đó là bởi vì NLDH vừa là dạng NL chuyên biệt nghề nghiệp, vừa là dạng NL cá nhân, vừa có sự tổng hợp của các dạng NL chung khác.

Nghiên cứu này đã nêu ra các đặc điểm NLDH của GV bao gồm: tính sáng tạo, khoa học, hiệu quả, phụ thuộc, cá biệt độc đáo, sẵn sàng, có thể hình thành thông qua chính sự giáo dục. Như vậy, nghiên cứu này dựa trên các tiếp cận NL mà chỉ ra tính chất của NLDH một cách mới mẻ và hiện đại. Một nghiên cứu khác lại chỉ ra các thành phần của NLDH của GV trong các nhà trường là nghiên cứu của tác giả Donna Fong-Yee và Anthony H. Normore trong công trình “The Impact of Quality Teachers on Student Achievement” (Tác động của chất lượng GV đến thành tích học tập của HS).

Các tác giả này đã nêu ra 3 thành phần của NLDH bao gồm: một là yếu tố thuộc về kĩ thuật, các thao tác hành động để thực hiện; hai là các yếu tố thuộc về tâm lí, cảm xúc, thái độ của GV; ba là yếu tố thuộc về giao tiếp, ứng xử, hợp tác. Như vậy, nghiên cứu này chỉ ra các thành phần cấu trúc của NLDH theo cách tiếp cận gần giống với các tiếp cận của các nhà nghiên cứu trong nước, song cũng chưa thực sự toàn diện. Các mô tả về thành phần của NLDH còn chồng chéo, khiến các bước nghiên cứu tiếp theo trở nên khó khăn hơn [98]. Giải quyết các vấn đề của nhóm tác giả trên thì các tác giả María, Soledad Ramírez và Montoya trong “Driving STEM Learning With Educational Technologies” (Học tập STEM với công nghệ giáo dục) đã đưa ra bức tranh toàn diện về NLDH của GV trong thời đại mới.

Thời đại công nghệ 4.0 đã xâm nhập vào mọi ngóc ngách của đời sống và ảnh hưởng trực tiếp tới khoa học giáo dục, đòi hỏi NLDH của GV có những chuyển biến phù hợp với những thay đổi trong cấu trúc NL, đề cao tính sáng tạo, linh hoạt và khả năng cải tạo của NLDH. Các dạng thức của NLDH được chú ý nhất 12 bao gồm các NLDH tích hợp, NLDH theo định hướng STEM, NLDH kết hợp (Blended learning), NLDH tương tác, sử dụng CNTT trong dạy học… Với cách tiếp cận mới mẻ của nhóm các tác giả trên đã tạo ra các hướng nghiên cứu hiện đại cho khoa học giáo dục nói chung và nghiên cứu NLDH của GV nói riêng [114]. Những nghiên cứu trong nước Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đội ngũ nhà giáo đều khẳng định rằng: GV là một trong những yếu tố then chốt trong thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện như trong “Quyết định 732/QĐ-TTg phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDPT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025” ban hành ngày 29 tháng 04 năm 2016 đã khẳng định: “Định hướng đến năm 2025, bảo đảm NL đội ngũ nhà giáo, được chuẩn hóa ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo” [19]. Như vậy với ý nghĩa đó thì có nhiều công trình khoa học, đề tài của nhiều tác giả nghiên cứu về đội ngũ GV nói chung và về NLDH nói riêng, tập trung các vấn đề: Xác định NLDH trong cấu trúc NL của GV và chỉ ra các đặc điểm, thành phần, phân loại của NLDH, cụ thể như sau: Về xác định NLDH trong cấu trúc NL của GV có các tác giả như: Nguyễn Thị Mĩ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Đặng Thành Hưng, Trần Bá Hoành, Vũ Trọng Rỹ… [54,4,42…].

Tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lộc trong bài báo nghiên cứu khoa học “Nghề và nghiệp của người GV” đã nêu lên vị trí của NLDH của GV là một NL nghề nghiệp của người GV, là NL trọng tâm trong cấu trúc NL nghề của GV [54]. Ở góc độ tương tự tác giả Nguyễn Quốc Bảo trong tác phẩm “Cẩm nang nâng cao NL và phẩm chất đội ngũ GV” cũng đã khẳng định vị trí quan trọng hàng đầu của NLDH trong hệ thống các NL và phẩm chất của đội ngũ GV, có vai trò quyết định tới chất lượng dạy học và giáo dục trong nhà trường. Như vậy, hầu hết các tác giả đều đi tới khẳng định vị trí, vai trò của NLDH đối với quá trình phát triển nghề của người GV. Song các tác giả trên chưa đưa ra được khái niệm cụ thể về NLDH, mới dừng lại ở việc đưa ra các biểu hiện cơ bản của NLDH trong cấu trúc nghề [4].

Để giải quyết các vấn đề đó, nghiên cứu của tác giả Vũ Xuân Hùng “Về hệ 13 thống NLDH của nhà giáo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo tiếp cận NL” đã đưa ra quan điểm trên góc độ khoa học dạy nghề, coi NLDH là những kiến thức, kĩ năng, thái độ cần thiết, được kết hợp nhuần nhuyễn, không tách rời để thực hiện được các nhiệm vụ, công việc cụ thể của nghề dạy học đã đặt ra, trong những điều kiện của nhà trường [45]. Như vậy, theo quan niệm này ngoài khẳng định vị trí của NLDH trong cấu trúc NL nghề dạy học, tác giả còn đưa ra các yếu tố thành phần của NLDH bao gồm kiến thức, kĩ năng và thái độ. Song đây là cách tiếp cận truyền thống trong mô tả cấu trúc tâm lí của nghề dạy học mà chưa thật sự mới, chưa thật sự phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Các tiếp cận mới mẻ hơn đó là tiếp cận NL đặt trong bối cảnh đổi mới Chương trình GDPT.

Tiêu biểu cho cách tiếp cận này có tác giả Lê Minh Cường trong bài báo nghiên cứu khoa học “Đổi mới công tác bồi dưỡng NLDH cho GV phổ thông” đã chỉ ra NLDH của GV trong bối cảnh ra đời của Chương trình GDPT năm 2018 cần có những NLDH như sau: NLDH theo hướng phát triển NL của người học, NLDH tích hợp, NLDH phân hóa, NLDH cá biệt, NL sử dụng phương pháp dạy học tích cực, NL sử dụng các phương tiện công cụ dạy học hiện đại, NL tư vấn học tập cho người học. Với cách tiếp cận như trên, có thể thấy NLDH bao gồm nhiều NL khác nhau, các NL này phù hợp với xu thế đổi mới giáo dục hiện nay, sát với bối cảnh ra đời của Chương trình GDPT mới. Tuy nhiên, hạn chế là công trình mới nêu ra các NLDH cần thiết của GV mà chưa phân tích cụ thể các NLDH cần được hình thành và phát triển như thế nào cho GV [25]. Những nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên 1.

Những nghiên cứu ở nước ngoài Bồi dưỡng NLDH cho GV là một vấn đề quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng giáo dục, được nhiều nhà khoa học giáo dục trên thế giới quan tâm và nghiên cứu. Các công trình này nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng NLDH cho GV, gắn liền với công tác phát triển nguồn nhân lực, khi đi sâu vào nghiên cứu có thể chỉ ra các công trình điển hình nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng NL cho GV như việc phân tích mục tiêu bồi dưỡng, nội dung bồi dưỡng, phương pháp và hình thức bồi dưỡng, cụ thể như sau: 14 Về các mục tiêu bồi dưỡng, có tác giả Dutto.G với tác phẩm “Professional Development for Teachers: the new scenario in Itali” (Phát triển chuyên môn cho GV theo chương trình mới của Itali), trong công trình này tác giả đã chỉ ra rằng, GV là người giỏi về chuyên môn và có thể học liên tục, suốt đời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ