CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG THIẾT KẾ VÀ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH BÀI DẠY MÔN TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGƯỜI HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên và bồi dưỡng giáo viên theo hướng phát triển năng lực (NL) Nhiều nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên trên thế giới và tại Việt Nam đã khẳng định tầm quan trọng của bồi dưỡng giáo viên và bồi dưỡng giáo viên THCS theo hướng phát triển năng lực dạy học. Mỗi nghiên cứu có một hướng tiếp cận riêng song đều khẳng định sự cần thiết phải bồi dưỡng giáo viên đặc biệt giáo viên THCS theo hướng phát triển năng lực dạy học.
Việc thiết kế khóa bồi dưỡng giáo viên được coi là một thách thức không chỉ đối với những người tham gia khóa học mà còn đối với cả những người thiết kế khóa học, đặc biệt, khi những giáo viên tham gia khóa bồi dưỡng có nền tảng và điều kiện chuyên môn khác nhau. Bài báo này cho rằng những thay đổi đối với thiết kế khóa học nên được thực hiện ngay lập tức để đáp ứng nhu cầu cụ thể của học viên. Bối cảnh đào tạo lại giáo viên trường nông thôn tại Đại học Kỹ thuật Bang Novosibirsk ở Nga minh họa những lý do cần thực hiện những thay đổi ngay lập tức khi khóa học diễn ra và phản ứng đối với những thay đổi đó. Bài viết thảo luận về một mô hình cho khóa đào tạo lại giáo viên trong đó cải thiện năng lực cho giáo viên là yếu tố cốt lõi 4 Cung cấp một cách tiếp cận mạch lạc và chiến lược để phát triển chuyên môn trong giảng dạy ngôn ngữ cho giáo viên: tự giám sát, nhóm hỗ trợ, viết nhật ký, quan sát lớp học, danh mục giảng dạy, phân tích phản biện sự cố, phân tích trường hợp, huấn luyện đồng đẳng, giảng dạy nhóm và nghiên cứu hành động, Elena Melekhina,Teacher-Retraining Course Design Renewal, Jack Richards, Professional Development for Language Teachers: Strategiesfor Teacher Learning, biện pháp về nghiệp vụ và đào tạo giáo viên; biện pháp về bồi dưỡng giáo viên; biện pháp sử dụng đội ngũ giáo viên; biện pháp về tạo 6 môi trường, chính sách cho giáo viên; Góp phần nâng cao chất lượng bồi dưỡng giáo viên THCS (môn toán) đáp ứng yêu cầu của chương trình, sách giáo khoa mới, Phùng Như Thụy, 2008, đã làm rõ thêm cơ sở lý luận về bồi dưỡng giáo viên THCS, thực trạng bồi dưỡng giáo viên hiện nay trên cơ sở đó đề xuất biện pháp nâng cao năng lực giáo viên THCS Công trình nghiên cứu về nâng cao năng lực nghề nghiệp đáp ứng được yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên THCS được thể hiện qua công trình nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên THCS - Thực trạng và biện pháp của Nguyễn Quang Nhữ, 2013 thông qua nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động bồi dưỡng giáo viên THCS.
Một nghiên cứu khác của Nguyễn Quang Nhữ, 2014, “Một số vấn đề về bồi dưỡng giáo viên THCS” đã đề cập đến vấn đề bồi dưỡng giáo viên THCS, sự cần thiết và tầm quan trọng của việc bồi dưỡng giáo viên THCS, bồi dưỡng cái gì, bồi dưỡng như thế nào, cơ quan nào thực hiện việc bồi dưỡng và cần kiểm tra đánh giá kết quả bồi dưỡng ra sao; Hướng phát triển NL trong giáo dục nói chung, dạy học nói riêng được hình thành, phát triển rộng khắp ở Mỹ vào những năm 1970 và trở thành một phong trào với những nấc thang mới trong những năm 1990 ở Anh, Úc, New Zealand, xứ Wales. 11 Rất nhiều học giả và các nhà thực hành phát triển nguồn nhân lực xem hướng phát triển NL là cách thức có ảnh hưởng nhiều nhất, được ủng hộ mạnh mẽ nhất để cân bằng giáo dục và quá trình dạy học, là “cách thức để chuẩn bị lực lượng lao động cho một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu” và là “một câu trả lời mạnh mẽ đối với những vấn đề mà các nhà trường, cá nhân, tổ chức đang phải đối mặt trong thế kỷ XXI”. Rodger, “Hướng phát triển năng lực trong dạy học tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì học sinh dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được”. Khi tổng kết các lý thuyết về hướng phát triển dựa trên NL trong dạy học và phát triển, K.
Paprock đã chỉ ra năm đặc tính cơ bản của hướng phát triển này: 1) Hướng phát triển NL dựa trên triết lý học sinh là trung tâm; 2) Hướng phát triển NL thực hiện việc đáp ứng các đòi hỏi của chính sách; 3) Hướng phát triển NL là định hướng cuộc sống thật; 4) Hướng phát triển NL rất linh hoạt và năng động; 5) Những tiêu chuẩn của NL được hình thành một cách rõ ràng. Chính những đặc tính nói trên đã làm cho hướng phát triển theo NL có những ưu 7 thế nổi bật so với các cách hướng phát triển khác trong dạy học. Kerka, những ưu thế đó là: 1) Hướng phát triển NL cho phép cá nhân hóa việc học: trên cơ sở mô hình NL, học sinh sẽ bổ sung những thiếu hụt của mình để thực hiện những nhiệm vụ cụ thể; 2) Hướng phát triển NL chú trọng vào kết quả (outcomes) đầu ra; 3) Hướng phát triển NL tạo ra những linh hoạt trong việc đạt tới các kết quả đầu ra, theo những cách thức riêng phù hợp với đặc điểm và hoàn cảnh của cá nhân; 4) Hướng phát triển NL còn tạo Năng lực cho việc xác định một cách rõ ràng những gì cần đạt được và những tiêu chuẩn cho việc đo lường các thành quả học tập của người học. Việc chú trọng vào kết quả đầu ra và những tiêu chuẩn đo lường khách quan của những NL cần thiết để tạo ra các kết quả này là điểm được các nhà hoạch định chính sách GD&ĐT và phát triển nguồn nhân lực đặc biệt quan tâm nhấn mạnh.
Boyatzid cho rằng phát triển dạy học dựa trên mô hình NL cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các NL, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan. Để xác định được các NL, điểm bắt đầu thường là các kết quả đầu ra (outputs). Từ đó, đi đến xác định vai trò của những người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này. Một vai trò là một tập hợp các hành vi được mong đợi về một người theo những nghĩa vụ và địa vị công việc của người đó.
Thuật ngữ “vai trò công việc” đề cập tới việc thực hiện những nhiệm vụ thực sự của một người. Trên cơ sở của từng vai trò, xác định các NL cần thiết để có thể thực hiện tốt vai trò đó. Mô hình NL đã được phát triển rộng khắp trên thế giới với Hệ thống chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp ở Anh và xứ Wales; Khung chất lượng quốc gia của New Zealand;Các tiêu chuẩn chất lượng của Hội đồng đào tạo quốc gia Australia; Những kỹ năng cần thiết phải đạt được của Hội đồng đào tạo quốc gia Mỹ… Cùng với nghiên cứu mô hình NL trong dạy học, các tác giả còn xây dựng mô hình NL của các nhà quản lý. Morley & Vilkinas đã tổng kết được 16 đặc tính xác định NL cho những nhà quản lý trong khu vực công, trong đó có lĩnh vực GD&ĐT, đó là: 1) Tầm nhìn và sứ mạng; 2) Thực hiện; 3) Chiến lược; 4) Quản lý con người; 5) Quan hệ công chúng, cộng đồng; 6) Sự phức tạp; 7) Quan hệ với các quá trình chính trị; 8) Tính trách nhiệm; 9) Thành tựu; 10) Năng lực trí tuệ, tư duy; 11) Các đặc tính cá nhân, đặc biệt là tự quản; 12) Chính sách; 13) 8 Kỹ năng quan hệ qua lại giữa các cá nhân; 14) Thay đổi; 15) Truyền đạt; 16) Quản lý nguồn lực.
Theo các tác giả này, muốn nâng cao hiệu quả quản lý, bản thân các nhà quản lý phải được phát triển các NL đặc trưng cho hoạt động quản lý. Trên cơ sở các NL chung, mỗi lĩnh vực quản lý đòi hỏi những NL riêng. Năng lực và giáo dục theo hướng phát triển năng lực đã được một số tác giả đề cập qua một số công trình nghiên cứu. Đặc biệt là của tác giả Đặng Thành Hưng, tác giả đã tiếp cận năng lực từ góc độ giáo dục, các cơ chế hướng phát triển và chuẩn năng lực.
Mặt khác kỹ năng và năng lực cũng được so sánh làm rõ và phân tích sâu trong quá trình dạy học. Một số công trình nghiên cứu về năng lực và phát triển năng lực dạy học cho giáo viên THCS cũng đã đưa ra được hệ thống khái niệm, thực trạng năng lực đội ngũ và các biện pháp về phát triển năng lực cho đội ngũ giáo viên nói chung được thể hiện theo các khía cạnh khác nhau. Các công trình nghiên cứu đã thể hiện rõ tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên, sinh viên sư phạm như các công trình của Vũ xuân Hùng, Trần Thị Hải Yến có thể thấy, trong bối cảnh toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức như hiện nay, với sự phát triển bùng nổ của công nghệ dạy học, sự thay đổi mạnh mẽ của công nghệ và toàn cầu hóa thì việc nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên là cần thiết. Vì thế, để nâng cao chất lượng giáo dục Việt Nam, cần thiết phải nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên, rất nhiều công trình nghiên cứu trong nước về năng lực dạy học đã khẳng định điều đó.
Rèn luyện năng lực dạy học là cần thiết và điều này đã được thể hiện trong nhiều công trình nghiên cứu: Phân tích các khái niệm về kĩ năng, kĩ năng dạy học, kĩ năng và năng lực, các nhóm kĩ năng dạy học, các nhóm năng lực của người giáo viên, về nhiệm vụ phát triển các năng lực nhận thức và năng lực hành động trong quá trình dạy học. và những kĩ năng đặc thù của việc dạy học Sinh học ở trung học cơ sở được thể hiện trong công trình của Trần Bá Hoành, 2004, Các năng lực và kĩ năng dạy học sinh học ở trung học cơ sở. Năng lực dạy học của người giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả đầu ra và tác động của người giáo viên có năng lực dạy học đến sản phẩm giáo dục sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giáo dục do đó việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên nói chung, giáo viên THCS nói riêng theo định hướng phát triển năng lực dạy học được quan tâm nghiên cứu theo các các 9 hướng phát triển khác nhau.