ĐẶT VẤN ĐỀ Tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hƣớng mạn t nh, hay tái phát và làm mất sức lao động. Bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nƣớc trên thế giới, tỷ lệ mắc từ 0,5% -1,5% dân số và thƣờng khởi phát vào lứa tuổi từ 18 đến 40. Bệnh tâm thần phân liệt không chỉ gây tổn hại cho ch nh bản thân ngƣời bệnh, nếu không đƣợc điều trị kịp thời ngƣời bệnh trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội [4], [24], [50]. Ở Việt Nam theo các điều tra dịch tễ học tỷ lệ mắc dao động từ 0,3% đến 0,8% dân số tùy theo từng vùng miền, có khoảng 98% số bệnh nhân đƣợc quản lý và chăm sóc tại cộng đồng [33], [34].
Ngày 10/10/1998, Thủ tƣớng Chính phủ đã ký bổ sung dự án Bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng vào chƣơng trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội - bệnh dịch nguy hiểm HIV/AIDS, nay thuộc chƣơng trình mục tiêu quốc gia về y tế [10], [29]. Theo báo cáo của dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng năm 2012, qua 14 năm triển khai, mạng lƣới chuyên khoa tâm thần phủ khắp từ Trung ƣơng đến địa phƣơng, tỷ lệ ngƣời bệnh TTPL đƣợc quản lý, điều trị chiếm trên 70%. Trình độ chuyên môn của cán bộ y tế cơ sở qua dự án đƣợc tập huấn, đào tạo nên kiến thức về bệnh TTPL ngày một vững vàng. Nhận thức của cộng đồng về sức khỏe tâm thần cũng đƣợc nâng lên rõ rệt.
Bên cạnh những kết quả đã đạt đƣợc, hoạt động quản lý, chăm sóc bệnh nhân tâm thần nói chung và TTPL nói riêng còn tồn tại một số vấn đề nhƣ nhân lực bác sĩ chuyên khoa tâm thần ở các tỉnh còn thiếu, cán bộ chuyên trách tuyến huyện, xã còn hạn chế về chuyên môn, kinh phí cấp cho dự án còn thấp và ngày càng bị cắt giảm, nhận thức của cộng đồng ở một số nơi, đặc biệt vùng sâu, vùng xa về sức khoẻ tâm thần còn hạn chế, nhiều quan niệm 2 còn lệch lạc. Ở một số tỉnh, các cấp chính quyền còn chƣa thực sự quan tâm, chƣa tạo điều kiện giúp đỡ cho ngƣời bệnh một cách đúng mức [10]. Tiên Du, Bắc Ninh là huyện đồng bằng bắc bộ có nền kinh tế khá phát triển, có nhiều khu công nghiệp, nhiều làng nghề truyền thống, mật độ dân cƣ khá cao. Áp lực công việc và những biến đổi nhanh về đời sống, kinh tế, xã hội là những nhân tố làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh tâm thần.
Dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng đƣợc triển khai ở Tiên Du từ năm 1999. Tuy nhiên đến nay vẫn còn một số tồn tại đó là bệnh nhân uống thuốc không đều, tỷ lệ BN bỏ thuốc còn cao, một số BN tái phát chƣa đƣợc phát hiện và kiểm soát kịp thời…. Nghiên cứu đánh giá thực trạng công tác quản lý bệnh nhân TTPL tại huyện Tiên Du từ đó đƣa ra giải pháp triển khai các hoạt động trong quản lý, chăm sóc bệnh nhân TTPL nói riêng và bệnh nhân tâm thần nói chung trong thời gian tiếp theo là cần thiết. Với lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bệnh nhân tâm thần phân liệt ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2014”.
Mục tiêu của đề tài: 1. Đánh giá kết quả hoạt động quản lý bệnh nhân tâm thần phân liệt ở huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2014. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động quản lý bệnh nhân tâm thần phân liệt tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt Theo tổ chức Y tế thế giới TTPL là một bệnh loạn thần nặng tiến triển từ từ, có khuynh hƣớng mãn tính, với các triệu chứng lâm sàng rất đa dạng. Tổn thƣơng của bệnh thể hiện ở các mặt hoạt động tâm thần nhƣ nhận thức, tri giác, tƣ duy, cảm xúc, hành vi [4]. Các triệu chứng của bệnh có thể khác nhau ở các bệnh nhân, thay đổi theo thời gian và tiến triển của bệnh. Căn nguyên của bệnh hiện nay chƣa rõ ràng, làm cho ngƣời bệnh dần tách ra khỏi cuộc sống với xung quanh, thu dần vào thế giới bên trong làm cho tình cảm trở lên khô khan dần, khả năng làm việc, học tập ngày càng sút kém, có những hành vi, ý nghĩ kỳ dị, khó hiểu [4], [16], [55].
Những tác động của bệnh đối với bệnh nhân thƣờng là nghiêm trọng và kéo dài. Bệnh thƣờng đƣợc chẩn đoán xác định dựa trên cơ sở khám lâm sàng tâm thần và tiền sử tâm thần của bệnh nhân. Đến nay chƣa có xét nghiệm nào dùng để chẩn đoán xác định bệnh TTPL [24]. Bệnh khá phổ biến trên toàn thế giới, tỷ lệ mắc từ 0,5 đến 1,5% dân số, không có sự khác biệt về tỷ lệ mắc giữa nam và nữ.
Bệnh chiếm khoảng 25% trong số những bệnh nhân tâm thần nhập viện lần đầu ở các bệnh viện tâm thần. Bệnh có thể biểu hiện rõ nét hoặc bệnh tiềm ẩn, ngƣời bệnh có thể sống, lao động trong xã hội mà không cần nhập viện [33], [49], [50]. Thực trạng công tác quản lý bệnh nhân tâm thần hiện nay Bệnh TTPL là bệnh có khuynh hƣớng tiến triển ngày càng nặng và trở thành mãn tính. Khi bệnh ở giai đoạn cấp tính thì cần phải đƣợc điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa tâm thần.
Thời gian điều trị cấp tính ở bệnh viện chỉ chiếm một khoảng thời gian rất ngắn so với quá trình điều trị bệnh TTPL 4 chính vì lẽ đó việc ngƣời bệnh đƣợc điều trị lâu dài tại Cộng đồng là hết sức quan trọng [8], [20], [46], [52]. Trên thế giới Bệnh TTPL có từ khi loài ngƣời xuất hiện nhƣng trong một thời gian rất dài công tác quản lý, chăm sóc và điều trị cho ngƣời bệnh hoàn toàn không có gì [24], [58], [59]. Thời trung cổ Phần lớn những bệnh nhân TTPL đƣợc tập trung vào các tu viện, các nhà cứu tế, họ bị đối sử tàn bạo và nhiều khi còn bị thiêu sống [24]. Cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX, việc chăm sóc và điều trị bệnh nhân tâm thần bắt đầu đƣợc thực hiện, sự xuất hiện các cơ sở điều trị chuyên khoa tâm thần đã đƣợc hình thành, tuy nhiên việc giam giữ, đối xử tàn bạo và vô nhân đạo đối với bệnh nhân vẫn còn tồn tại.
Tại Pháp: Dƣới cuộc cách mạng tƣ sản Pháp quan điểm duy vật và khoa học về bệnh tâm thần bắt đầu chiếm ƣu thế. Năm 1792, quan điểm giải phóng ngƣời bệnh tâm thần khỏi xiềng x ch đã đƣợc Pinel. P đƣa ra và tiếp theo đó là các bệnh viện tâm thần lần lƣợt đƣợc ra đời [30]. Tại Nga: Năm 1723, bắt đầu xây dựng các quân y viện đặc biệt để điều trị bệnh nhân tâm thần đồng thời nghiêm cấm việc giam giữ các bệnh nhân trong các tu viện.
Năm 1975, Nga đã xây dựng Bệnh viện tâm thần Preobrazenxkia tại Maxcova [37]. Thế kỷ XX và thế kỷ XXI, thời kỳ này hàng loạt các bệnh viện tâm thần với quy mô từ 1000 đến 3000 giƣờng ra đời ở các nƣớc phát triển và ngƣời bệnh tâm thần đƣợc giải phóng tới mức tối đa [30]. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, quan điểm về chăm sóc và điều trị bệnh nhân có xu hƣớng thay đổi đó là các bệnh viện chuyên khoa tâm thần chuyển quy mô giƣờng bệnh lớn, mang tính khu vực sang quy mô giƣờng 5 bệnh nhỏ tại các địa phƣơng và nhiều chính sách quốc gia tập trung ƣu tiên cho chăm sóc và điều trị bệnh nhân tại cộng đồng [55]. Tại Australias: Năm 1992, một chính sách quốc gia về chăm sóc sức khỏe bệnh nhân tâm thần đã đƣợc ra đời trong đó đã nhấn mạnh cần tăng cƣờng chăm sóc sức khỏe tâm thần tại cộng đồng.
Nhiều bệnh viện tâm thần lớn ở xa khu dân cƣ đã đã đóng cửa thay vào đó là nhiều khoa tâm thần tại các bệnh viện đa khoa đƣợc hình thành với quy mô từ 20-50 giƣờng. Tại đây, các bệnh nhân tâm thần giai đoạn cấp t nh đƣợc điều trị và sau khi ổn định sẽ tiếp tục đƣợc điều trị ngoại trú tại cộng đồng. Chăm sóc bệnh nhân tại cộng đồng có đội chăm sóc sức khỏe tâm thần [24], [55]. Tại Nga và các nƣớc ở Châu âu thời kỳ này phát triển mạnh hệ thống chăm sóc tâm thần cộng đồng, hay tƣơng tự nhằm quản lý, chăm sóc và điều trị bệnh nhân tâm thần cả nội trú và ngoại trú tại cộng đồng [30].
Thời kỳ này những hiểu biết về bệnh đã khá hoàn chỉnh, chính vì vậy ngoài vai trò của cán bộ y tế thì vai trò của cộng đồng xã hội và đặc biệt là gia đình bệnh nhân là không thể thiếu. Gia đình bệnh nhân và cộng đồng xã hội đƣợc tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về bệnh để họ có thể giúp ngƣời bệnh trong quá trình điều trị một cách tốt nhất [63], [64], [67]. Hiện nay trên thế giới nhiều mô hình quản lý, điều trị bệnh nhân TTPL đƣợc triển khai bao gồm điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa, các Khoa tâm thần của các bệnh viện đa khoa, bệnh viện ban ngày, điều trị tại các trung tâm bảo trợ xã hội và điều trị tại cộng đồng. Xu hƣớng hiện nay trên thế giới phát triển mạnh các cơ sở điều trị ngoại trú, điều trị ban ngày và điều trị tại cộng đồng.
ỞBhutan, có nhiều mô hình quản lý, điều trị cho bệnh nhân TTPL nhƣ các cơ sở điều trị ngoại trú, cơ sở điều trị ban ngày, các đơn vị điều trị nội trú tại cộng đồng. Hiện nay, ở Bhutan không có bệnh viện tâm thần, không có các cơ sở điều trị cộng đồng, không có các cơ sở khác đủ điều kiện pháp lý đề 6 điều trị bệnh nhân Tâm thần. Trong các cơ sở điều trị nói trên thì mô hình cơ sở điều trị ngoại trú là phát triển nhất, số bệnh nhân điều trị tại các cơ sở điều trị ngoại trú chiếm tới 98% tổng số bệnh nhân [64]. Tại Nepal, về mô hình điều trị cơ bản giống Bhutal trong đó số bệnh nhân tâm thần điều trị tại các cơ sở điều trị ngoại trú chiếm 98% và trong số đó bệnh nhân TTPL chiếm 21%.
Tại Nepal chỉ có 01 bệnh viện Tâm thần và số bệnh nhân điều trị tại đây chỉ chiếm 1% tổng số bệnh nhân tâm thần [63].