CHƯƠNG 1: NHẬT BẢN VÀ CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á CUỐI THẾ KỶ XIX 1.1 Tổng quan về Nhật Bản Nhật Bản là một đảo quốc nằm trên vùng biển Thái Bình Dương, thuộc khu vực Đông Bắc Á, có hình cánh cung, theo chiều từ Bắc xuống Nam có 4 đảo lớn Hokkaido, Honshu, Shikoku, Kyuushuu. Diện tích 374,212 km2. Phía Tây Bắc giáp với bán đảo Triều Tiên và Liên bang Nga, phía Tây là biển Nhật Bản, biển Hoa Đông, phía Nam là Đài Loan. Khí hậu ôn đới với 4 mùa trong năm, nhưng do hình thế dài nhỏ nên có sự chênh lệch tương đối giữa các vùng.
Điều kiện sinh thái đa dạng, phong cảnh thiên nhiên đẹp, đặc biệt là những loại thực vật theo mùa đặc sắc. Núi chiếm tới hai phần ba diện tích, nhiều núi cao trải dài suốt 4 đảo chính, trong đó bao gồm cả núi lửa, do vị trí địa lý nằm trên vành đai núi lửa Thái Bình Dương trong đó có núi lửa vẫn còn hoạt động. Nhờ trình độ khoa học kỹ thuật phát triển cao nên việc giám sát hoạt động của núi lửa để đưa ra cảnh báo chính xác và kịp thời đã giúp Nhật Bản giảm thiểu những thiệt hại do núi lửa gây ra. Nhưng cũng nhờ những ngọn núi lửa đã đem lại cho đất nước này nhiều suối nước nóng, tạo điều kiện phát triển ngành dịch vụ nghỉ dưỡng.
Ngoài ra, cũng do ảnh hưởng của vị trí địa lý nên Nhật Bản thường xuyên bị động đất, thậm chí là sóng thần. Chính vì phải luôn ứng phó với động đất và sóng thần nên hầu như mọi người dân luôn có sự chuẩn bị trước và có khả năng ứng biến với những thiên tai bất ngờ. Kỹ thuật xây dựng, vật liệu xây dựng để ứng phó với thiên tai của Nhật Bản cũng phát triển. Tuy đất trồng trọt chỉ chiếm 20% diện tích, đồng bằng chủ yếu nhỏ hẹp, nhưng trong suốt quá trình lịch sử nền kinh tế chính là nông nghiệp.
Lúa là nông sản chủ yếu. 18 Hiện nay, Nhật Bản đã thành công trong việc hình thành một ngành nông nghiệp sạch, bền vững, và chất lượng cao. Khoáng sản của Nhật Bản nghèo nàn. Tuy nhiên, trong khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, việc khai thác bạc để lưu thông và xuất khẩu đã giúp kinh tế Nhật phát triển, tạo nền tảng cho sự phát triển thương mại.
Mỏ bạc Iwami Ginzan với trữ lượng khai thác chiếm khoảng 1/3 trữ lượng bạc thế giới trong giai đoạn này. Hiện nay mỏ bạc này trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn du khách khi đến Nhật. Do Nhật Bản có địa thế bốn bề là biển, cùng với những dòng hải lưu lạnh và ấm ôm các bờ đảo tạo nên những vùng đánh bắt hải sản phong phú nên đã tạo cho người Nhật có cái nhìn hướng biển và năng động, giao thông đường biển và nghề đánh bắt thủy hải sản phát triển. Về mặt văn hóa giáo dục, với vị trí địa lý biệt lập so với các quốc gia khác, Nhật Bản đã hình thành cho mình một cơ tầng văn hóa bền vững và mang tính thuần nhất.
Nền văn hóa Nhật Bản vô cùng đặc sắc, có những đặc trưng riêng và nhiều loại hình văn hóa đã được nâng lên tầm cao của nghệ thuật khiến thế giới phải ngưỡng mộ như hoa đạo, trà đạo, thư đạo, kiếm đạo,.Trong suốt lịch sử phát triển của mình, Nhật Bản thường chủ động tiếp thu văn hóa từ bên ngoài một cách chọn lọc, sau đó tiếp biến nó để phù hợp với đất nước của mình. Điển hình là từ thế kỷ thứ VI, triều đình Nhật Bản đã cử người sang Trung Quốc học tập. Nhật Bản đã tiếp thu hệ tư tưởng Nho giáo của Trung Quốc, tuy nhiên họ không thực thi chế độ khoa cử, quan trường giống Trung Quốc. Tiếp sau đó, Phật giáo cũng du nhập vào Nhật Bản và trở thành một trong những tôn giáo quan trọng cùng với Thần đạo với sự xuất hiện của nhiều tông phái mới mang bản sắc của Nhật Bản.
Nhật Bản cũng rất chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống. Vào thế kỷ XIX, nhận thấy sự phát triển vượt bậc về khoa học kỹ thuật ở phương Tây, Nhật Bản cũng đã cử người du học, đồng thời họ cũng thuê các chuyên gia đến nước mình làm việc. Hiện nay, bên cạnh việc phát triển kinh tế, 19 Nhật Bản cũng rất chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, phát triển giáo dục. Về mặt lịch sử, quần đảo Nhật Bản trước kia gắn liền với lục địa Châu Á.
Những cư dân sinh sống đầu tiên được ghi nhận cách đây 10,000 năm. Thời đại Jomon khoảng 7,000 đến 8,000 năm cách ngày nay được xem là giai đoạn bắt đầu của lịch sử Nhật Bản, được ghi nhận thông qua những hiện vật gốm có hoa văn dạng dây thừng và tín ngưỡng sơ khai với niềm tin vạn vật hữu linh. Từ thế kỷ thứ nhất đến thứ 3 sau công nguyên, người Nhật bắt đầu với nền nông nghiệp lúa nước. Các nhà khảo cổ cũng tìm thấy các hiện vật cho thấy Nhật Bản lúc này bao gồm nhiều tiểu quốc (xã hội thị tộc) và là nước chư hầu của nhà Hán (Trung Quốc).
Từ thế kỷ thứ tư, các tiểu quốc hợp lại thành một đất nước thống nhất và lấy tên là Yamato. Đây là nhà nước thống nhất đầu tiên của Nhật Bản. Nhà nước được tổ chức theo kiểu triều đình, vua đứng đầu và vua được gọi là “thiên hoàng”. Trong khoảng thời gian từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 6, nhiều người Trung Quốc và Triều Tiên đến Nhật Bản sinh sống.
Họ được triều đình giao các công việc như trồng dâu nuôi tằm, làm cầu đường, công việc ngoại giao, kế toán, thư ký,.nhờ vậy những tri thức và kỹ thuật tiên tiến cũng như tôn giáo, tín ngưỡng cũng được truyền vào Nhật Bản. Nhật Bản bước vào xã hội phong kiến từ thời đại Kamakura (năm 1185) đến thời Tokugawa. Thời kỳ Tokugawa (1603-1868) tổ chức chính trị theo kiểu bakuhan (tức bakufu-trung ương do Shogun lãnh đạo và các han-địa phương do các Daimyo cai quản), xã hội được chia thành bốn đẳng cấp sĩ – nông – công – thương. Giai đoạn đầu, chính quyền đã mở cửa thúc đẩy giao thương với nước ngoài nên việc buôn bán đã diễn ra rất tấp nập trong giai đoạn này.
Từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18, ở Châu Âu những thành tựu khoa học mới ra đời đã thúc đẩy sản xuất phát triển, giai cấp tư sản ra đời. Các cuộc Cách mạng tư sản liên tiếp nổ ra thành công. Sau khi xóa bỏ chế độ phong kiến, hầu hết các nước Châu Âu đã phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa. Các nước phương Tây bắt đầu đẩy mạnh việc tìm kiếm thị trường và thuộc địa.
Kỹ thuật hàng hải phát triển, những cuộc phát 20 kiến địa lý và khai thác đường biển mới cùng với nhu cầu giao thương ngày càng cao, đã đưa những con thuyền của phương Tây tìm đến Châu Á. Ở Nhật Bản, Chính quyền Mạc Phủ của Nhật Bản sau một thời gian mở cửa phát triển thương mại với bên ngoài đã chọn giải pháp “đóng cửa”, hạn chế giao thương do lo ngại việc các Daimyo tại các địa phương có cơ hội phát triển thế lực, sức ảnh hưởng của đạo Thiên Chúa ngày càng lớn và sự xâm lăng của các nước như Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha vào Nhật Bản. [Vĩnh Sính, 2014, tr.70-71] Vào nửa đầu thế kỷ XIX, ở Nhật Bản số công trường thủ công xuất hiện ngày càng nhiều, ngành nghề đa dạng như sản xuất gốm sứ, dệt, sợi, nhuộm, thực phẩm, khai thác mỏ,. những giai cấp mới được hình thành như tư sản công nghiệp, quí tộc mới, công nhân,.
Kinh tế hàng hóa tương đối phát triển. Tuy trong nội tại đất nước có sự chuyển mình nhưng còn chậm và chưa đủ tạo nên “sức đề kháng” với sức mạnh của các nước tư bản. Trong giai đoạn này, Mỹ, Anh, Nga, Hà Lan liên tiếp gửi các phái đoàn đến Nhật Bản với mục đích thuyết phục Nhật Bản mở cửa các cảng cho tàu ngoại quốc vào, nhưng không được sự chấp thuận buộc Mỹ phải dùng biện pháp mạnh. Tháng 7 năm 1853 Mỹ đã điều một lực lượng hải quân khổng lồ đến Nhật Bản yêu cầu mở các quan hệ thương mại.
Sự việc này đã đẩy chính quyền Edo lúc đó vào một tình thế lúng túng. Trước tình hình này: chính quyền đã chia thành hai phe: những người bảo thủ thì không đồng ý, những người có óc thực tế thì cho rằng nên nhượng bộ các yêu sách của Mỹ. Trước áp lực về quân sự của Mỹ chính quyền Edo đã ký những hiệp ước với Mỹ, trong đó có những điều khoản có tính bất bình đẳng. Liên tiếp những năm sau đó, Nhật Bản đã ký hiệp ước bất bình đẳng với các nước phương Tây về tự do thương mại và cho phép người nước ngoài thường trú tại năm cảng và hai thành phố lớn của Nhật là Osaka và Edo, điều này đã làm cho dòng họ Tokugawa (dòng họ đang nắm quyền) dần mất đi quyền kiểm soát quyền lực của mình.
21 Chế độ Mạc Phủ lâm vào tình trạng khủng hoảng, mâu thuẫn giữa những lực lượng sản xuất mới với những quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu ngày càng tăng và sức ép từ bên ngoài là một trong những nguyên nhân dẫn đến cải cách ở Nhật. Năm 1868, vị hoàng đế trẻ tuổi Mutsuhito khi đó mới tròn 15 tuổi lên ngôi lấy niên hiệu là Meiji (Minh trị) bằng sự chuyển giao quyền lực từ dòng họ Tokugawa, dưới sự hỗ trợ của những nhà cải cách trẻ. Thiên Hoàng đã cho dời đô từ Kyoto về Edo và đặt tên là “Tokyo” tức Đông Kinh. Chính quyền đã khởi đầu công việc bằng việc loại bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến, họ thuyết phục các Daimyo (Lãnh chúa) trao lãnh địa cho Nhật Hoàng.
Năm 1871 các lãnh địa bị xóa bỏ hoàn toàn và đất nước phân chia thành các đơn vị hành chính. Các Daimyo được đền bù bằng những khoản tài chính lớn như trái phiếu chính phủ. Chính quyền mới tiến hành cải cách toàn diện. Về cải cách kinh tế: Nhật Bản đã tiến hành phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Nhà nước khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp, đặc biệt là sản xuất tơ sợi và quân nhu được chú trọng. Trong giai đoạn đầu chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh, nhưng nhờ chính sách khuyến khích phát triển nên các doanh nghiệp tư nhân cũng nhanh chóng được hình thành. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ đã ra đời trong giai đoạn này.