Chương 1 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNGĐẾN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA VỚI HOA KỲ (1955-1975) 1. KINH TẾ CỦA VIỆT NAM CỘNG HÒA 1. Nông nghiệp Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa trải qua hai thời kỳ rõ rệt đó là thời kỳ kinh tế được hoạch định (1954–1963) và thời kỳ tự do kinh doanh (1963– 1975). Trong giai đoạn đầu, sau khi giành được độc lập, Việt Nam Cộng hòa dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm đã hoạch định hai kế hoạch năm để hướng dẫn tiến trình công nghiệp hóa.
Chính phủ xuất ra một khoản ngân lớn để đầu tư vào các ngành công nghiệp quan trọng: Công ty đường Việt Nam, Công ty thủy tinh Việt Nam, Cogido, Nhà máy xi măng Hà Tiên. Đồng thời giới tư nhân Sài Gòn cũng bắt đầu hăng hái xuất vốn đầu tư vào nhiều ngành công nghiệp: chế tạo dược phẩm (Tenamyd, Roussel…), hóa chất căn bản (Vicaco, Namyco…), nhựa dẻo (Ufiplastic), fibro xi măng (Eternit). Tuy nhiên, giai đoạn sau năm 1963 mới là thời kỳ đỉnh cao của nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa, khi các chính sách tự do hóa kinh tế được thực thi với mức độ cao. Nhưng đây cũng là thời điểm chiến tranh Việt Nam diễn ra khốc liệt nhất, bom đạn hủy hoại hàng loạt cơ sở hạ tầng đã tạo ra một rào cản lớn cho việc đầu tư.
Do đó mọi năng lực quốc gia đều ưu tiên cho cuộc chiến và đảm bảo sinh hoạt của người dân. Cũng vì tình hình bất ổn mà nhiều khu công nghiệp quy mô như khu An Hòa làm phân bón hóa học, nhà máy lọc dầu Cam-Ranh, nhà máy chế tạo tơ bóng và làm acid sulfurique Biên Hòa bị đình trệ. Giới tư nhân chuyển sang đầu tư vào những ngành đòi hỏi vốn ít, cơ sở nhỏ tại các khu vực an ninh như chế tạo dược phẩm, thực phẩm, điện khí, dệt, dược liệu, hóa phẩm, đường mía, sợi bông. Bên cạnh đó là sự có mặt của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh đã có những tác động không nhỏ đến nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa giai đoạn này.
7 c Nhìn chung, cả hai thời kì đều có chung định hướng là phát triển miền Nam Việt Nam thành một nền kinh tế sản xuất. Mặc dù sau năm 1963 kinh tế Việt Nam Cộng hòa dần mang tính thương mại nhiều hơn, nhưng ý định công nghiệp hóa luôn là định hướng phát triển kinh tế toàn diện của chính quyền. Trong nông nghiệp Về chế độ sở hữu ruộng đất: Ngô Đình Diệm thực hiện Cải cách ruộng đất ở nông thôn kéo dài 5 năm từ khi chế độ Việt Nam Cộng hòa được thành lập đến năm 1960. Cuộc cải cách đã thu hồi ruộng đất bỏ hoang của địa chủ và cấp cho tá điền.
Theo đó địa chủ không được phép sở hữu quá 100 ha đất (riêng các đồn điền dù hơn 100 ha thì vẫn được phép), số dư ngoài 100 ha đó sẽ buộc phải bán cho chính quyền và sau đó bán lại cho tá điền. Tá điền được lập một hợp đồng khai thác ruộng đất với địa chủ gọi là khế ước và trong đó sẽ ghi mức địa tô phải trả cho địa chủ. Khế ước có thời hạn là 5 năm và có tái ký, tá điền được quyền trả đất và phải báo cho chủ đất trước 6 tháng, ngược lại chủ đất muốn lấy lại đất thì phải báo trước cho tá điền 3 năm. Do mức hạn điền lớn là 100 ha, để lách luật các đại địa chủ thường cho người nhà đứng tên trên đất của mình, ngoài ra đất của các Giáo xứ Công giáo lại được miễn thuế và hạn mức, do vậy chỉ có 13% diện tích đất của miền Nam được phân phối lại.
Cuộc cải cách ruộng đất này đã đưa giai cấp địa chủ trở lại, 2/3 diện tích đất canh tác của miền Nam Việt Nam nằm trong tay tầng lớp địa chủ, gây ra bất bình lớn đối với nông dân. Kết quả ở nông thôn có 75% người dân ủng hộ quân giải phóng, 20% trung lập, và chỉ có 5% là ủng hộ chế độ Ngô Đình Diệm [; tr. Chính vì vậy, đến năm 1970 Nguyễn Văn Thiệu phải tiếp tục tiến hành cuộc cải cách ruộng đất. Nhằm khôi phục sản xuất sau sự kiện Tết Mậu Thân, chính quyền đã thành lập "Quỹ tái thiết cơ sở sản xuất" vào ngày 19/4/1968, nhằm cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp bị tàn phá [14; tr.
Năm 1970 chính quyền đã thực hiện lại cuộc cải cách ruộng đất với tên “người cày có ruộng”, nhằm khuyến khích nông nghiệp phát triển và xoa dịu người dân ở nông thôn. Cuộc cải cách thực hiện với mục tiêu là cấp 1,5 triệu ha ruộng đất cho 80 vạn hộ nông dân, và nông dân sẽ được cấp giấy chứng nhận sở hữu ruộng đất. Đến 8 c năm 1973, tổng cộng có 75 vạn hộ, với khoảng 5 triệu người đã được cấp ruộng đất. Cuộc cải cách đã tạo ra tầng lớp tiểu nông đông đảo và thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển.
Nông dân tích cực sản xuất, năng suất lúa tăng lên nhanh chóng và đời sống của người dân được cải thiện. Năm 1972, chính quyền thành lập "Quỹ phát triển kinh tế quốc gia" nhằm tài trợ tất cả dự án có tính khuếch trương, canh tân hay tân tạo thuộc các ngành canh nông, kỹ nghệ và dịch vụ [14; tr. Nông nghiệp là một lĩnh vực kinh tế quan trọng của Việt Nam Cộng hòa với các sản phẩm chính là lúa và cao su. Miền Nam Việt Nam có thời kì xuất khẩu cả gạo, năm 1960 Việt Nam Cộng hòa xuất khẩu gạo lớn nhất với tổng là 340 nghìn tấn.
Sau đó do chiến tranh mở rộng, sự tàn phá của bom đạn Hoa Kỳ đã khiến sản lượng gạo giảm nhanh. Xuất khẩu gạo giảm dần, đến năm 1962 chỉ còn 85 nghìn tấn, và đặc biệt từ năm 1965 trở đi phải nhập khẩu gạo để đảm bảo an ninh lương thực. Từ năm 1970 sản xuất lúa tại miền Nam đã tăng trở lại, do chính phủ thực hiện những chính sách phát triển nông thôn, cùng với đó là tiến bộ kỹ thuật nhiều giống lúa mới được đưa vào sản xuất như lúa Thần Nông phát triển nhanh và tốt. Đến năm 1971, lúa Thần Nông đã được gieo trồng trên 2,6 triệu mẫu ruộng, bằng 42% tổng diện tích canh tác.
Sản lượng lúa ngày càng tăng, năm 1960 là 4,9 triệu tấn, nhưng đến năm 1973 tăng lên ,3 triệu tấn. Sản xuất cây công nghiệp được đẩy mạnh bao gồm các loại cây: thuốc lá, mía đường, ngô. đặc biệt là cao su để thay thế nhập khẩu. Trong nông nghiệp vấn đề cơ khí hóa vẫn ở mức kém.
Mức độ cơ khí hóa nông nghiệp của miền Nam Việt Nam là 0,2 mã lực/mẫu thấp hơn Đài Loan đạt 0, mã lực/mẫu, diện tích sử dụng máy cày nhỏ (chiếm 20% tổng diện tích). Hệ thống thủy nông còn thấp, các máy bơm chưa đảm bảo tưới được 1/10 diện tích nông nghiệp. Trong nông nghiệp thì Việt Nam Cộng hòa sử dụng phân bón ở mức thấp đạt 150 kg/ha, thấp hơn so với các nước như Đài Loan là 310 kg/ha, Hàn Quốc là 230 kg/ha và Nhật Bản là 400 kg/ha, ở miền Bắc Việt Nam cũng đã đạt 300 kg/ha [; tr. Do không có nhà 9 c máy sản xuất nên phân bón của Việt Nam Cộng hòa đều phải nhập khẩu từ bên ngoài.
Công nghiệp Các cơ sở công nghiệp của Việt Nam Cộng hòa phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa: chiếm khoảng 85% tổng số xí nghiệp và 90% tổng sản lượng. Việc chuyên chở nguyên liệu đến các cơ sở sản xuất gặp khó khăn, do các nguồn nguyên liệu quan trọng thì đều cách xa các cơ sở sản xuất. Nền công nghiệp của Việt Nam Cộng hòa trải qua 4 giai đoạn phát triển: Giai đoạn 1 (1954-1956): công nghiệp khá nghèo nàn, có rất ít các nhà máy, xí nghiệp. Giai đoạn 2 (1957-1967): công nghiệp phát triển mạnh nhờ những chính sách tích cực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nguồn viện trợ của Hoa Kỳ và các biện pháp bảo hộ nền công nghiệp trong nước.
Chính quyền Việt Nam Cộng hòa tích cực đẩy mạnh phát triển công nghiệp hóa từ đó thay thế dần nhập khẩu. Chính phủ dựng lên các hàng rào thuế quan và phi thuế quan để bảo vệ ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả là các nhà máy đã được hình thành: năm 1961 nhà máy Cogido An Hảo là nhà máy giấy đầu tiên được thành lập đáp ứng được 30 - 40% nhu cầu tiêu thụ giấy tại miền Nam, nhà máy thủy tinh Khánh Hội với năng suất 15.000 tấn/năm, 2 nhà máy xi măng ở Hà Tiên và Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm, năm 1961 đập thủy điện Đa Nhim được hoàn thành. Trong khi hạn chế nhập khẩu thì xuất khẩu được đẩy mạnh, chính quyền trợ cấp một số mặt hàng và điều chỉnh tỉ giá hối đoái thuận lợi cho xuất khẩu.
Giai đoạn 1955-1964 là thuận lợi nhất của xuất khẩu Việt Nam Cộng hòa. Chính phủ triển khai hai kế hoạch năm. Kế hoạch năm lần I (1957- 1962) nhằm hàn gắn vết thương chiến tranh, giảm thâm hụt ngân sách và phục hồi phát triển nền sản xuất: tăng lợi tức quốc gia lên 16%, tức 81 tỉ bạc vào 10 c năm 1961; gia tăng sản lượng các ngành canh nông (tăng 27%), ngư nghiệp (tăng 70%), công kỹ nghệ (tăng 20%), giao thông – thương mại – nghiệp vụ ngân hàng (tăng 15%), các lĩnh vực khác (tăng 5%) [; tr. Và kế hoạch năm lần II (1962-1966) đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, thành lập thêm những ngành công nghiệp căn bản phục vụ cho tiêu thụ trong nước và xuất khẩu trong tương lai như hoàn tất khu công nghiệp An Hòa, Nông Sơn với sản lượng than dự trù đạt 250000 tấn năm 1966.
Theo đó trong nền kinh tế công nghiệp sẽ hỗ trợ cho nông nghiệp, hoàn tất các nhà máy thủy điện, đặc biệt kế hoạch này không chỉ nhằm phát triển kinh tế mà các vấn đề giáo dục, y tế, xã hội, lao động cũng được đặc biệt chú trọng. Các khu công nghiệp được thành lập tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư vào lĩnh vực chế tạo: khu công nghiệp Biên Hòa, Phong Dinh, An Hòa - Nông Sơn, đặc biệt tháng 12/1963 Công ty quốc gia khuếch trương khu kỹ nghệ được thành lập nhằm quản lý và phát triển các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, chính phủ khuyến khích đầu tư tư nhân bằng các biện pháp hỗ trợ về tín dụng. Năm 1958 thành lập Trung tâm Khuếch trương kỹ nghệ để hỗ trợ hướng dẫn cho các doanh nghiệp về công nghệ và tài chính, cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp.
Do vậy nền công nghiệp của Việt Nam Cộng hòa phát triển rất nhanh.