CHƯƠNG 1: CƠ SỞ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM – NHẬT BẢN 1. Tiền đề Lịch sử Nhật Bản và Việt Nam là hai nước thuộc khu vực châu Á, không những có lịch sử quan hệ từ rất sớm mà còn có sự gần gũi về vị trí địa lý, điểm giống nhau về điều kiện tự nhiên và những nét tương đồng về văn hóa, tôn giáo – tín ngưỡng, phong tục. Nhật Bản là quần đảo nằm ở Tây Bắc lòng chảo Thái Bình Dương, ngoài khơi phía Đông lục địa châu Á, trải theo một vòng cung hẹp dài 3.852 hòn đảo lớn nhỏ, tổng diện tích là 377.944km2, với 4 đảo lớn nhất, chiếm 97% diện tích, là Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu. 73% diện tích đất là đồi núi và rừng rậm.
Dân số: 127,7 triệu (khái toán 7/2018) (Tổng cục thống kê Nhật Bản). Khí hậu với bốn mùa rõ rệt, nhưng có sự khác nhau rất lớn giữa các khu vực. Nhìn chung, khí hậu ở Nhật Bản tương đối khắc nghiệt, lại bị ảnh hưởng nhiều bởi thiên tai như núi lửa, động đất, sóng thần. Điều này đã tạo nên tính cách riêng của người Nhật Bản như tính chịu thương, chịu khó, tiết kiệm, bản lĩnh, kiên cường, cứng rắn, trung thành với các giá trị truyền thống, nhưng lại tiếp nhận rất sớm và nhanh những giá trị của văn minh nhân loại để phát triển đất nước.
Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Diện tích Việt Nam là 330.000 km², biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm- pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp Biển Đông. Theo kết quả điều tra năm 2021 dân số Việt Nam ước tính 98,51 triệu người (Tổng Cục Thống kê). Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới với địa hình phần lớn là đồi núi (chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ), chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng chỉ chiếm 1/4 diện tích.
Cũng như Nhật Bản, tính cách con người Việt Nam được hình thành và phát triển qua hàng ngàn năm lịch sử do nhiều yếu tố tác động như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, văn minh nông nghiệp, chịu nhiều gian khổ, hy sinh, mất mát.do phải đối mặt với thiên tai và các cuộc xâm lăng của ngoại bang trong nhiều thế kỷ đã tạo nên tính cách kiên 13 cường, can đảm, dẻo dai, dễ thích ứng, tính cố kết cộng đồng cao, truyền thống anh hùng, bất khuất, ý thức độc lập, tự chủ rất cao. Về các mối liên hệ lịch sử, do vị trí địa lý không quá xa nhau và nhu cầu nội tại qua các thời kỳ, Nhật Bản và Việt Nam đã có các mối liên hệ và quan hệ giao lưu từ rất sớm. Nhà nghiên cứu người Nga P. I Boriskovski cho rằng: “Từ sơ kỳ thời đại đồ đá mới, ở miền Trung nước Nhật Bản đã thể hiện những mối liên hệ với nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn ở Việt Nam”.
Nhiều bảo tàng ở Việt Nam và Nhật Bản còn lưu giữ những vật phẩm, tác phẩm nghệ thuật… nhiều nơi còn để lại di tích mang tính lịch sử về quan hệ hai nước như: Hội An, Hà Nội (Việt Nam), Sizuoka, Tokyo, Nagoya, Nagasaki (Nhật Bản). Thế kỷ thứ VIII, thời nhà Đường còn đô hộ Việt Nam, một viên quan nhà Đường gốc Nhật Bản là Abe no Nakamaro đã được cử sang làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ. Theo nhiều tài liệu cổ của Nhật Bản, thì ngay từ rất sớm Nhật Bản đã tăng cường giao lưu với bên ngoài, đặc biệt là với các nước như Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha. Chính sự giao lưu này không những làm phát triển Nhật Bản, mà còn làm thay đổi tư duy vốn từ lâu bị lệ thuộc vào tư duy truyền thống.
Và Việt Nam cũng là một vùng đất mà người Nhật hướng tới. Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh ngay từ đầu thế kỷ 15 đã có một số ít người Nhật Bản tới buôn bán ở Việt Nam. Thời kỳ Toyotomi Hideyoshi (1536 – 1598) thương gia Shirahama Kenki đã cùng 5 chiếc thuyền lớn đến buôn bán ở Cửa Việt (Thuận Hóa) thuộc tỉnh Quảng Trị ngày nay. Đây có thể nói là mốc quan trọng trong việc Nhật bản mở rộng thông thương với Đàng Trong.
Sau đó còn có nhiều thương gia khác tới Đàng Trong với mục đích buôn bán. Theo số liệu thống kê từ năm 1604 – 1634 trong số 331 giấy phép cấp cho các tàu thuyền giao dịch buôn bán với nước ngoài có 121 giấy phép cấp cho các tàu thuyền Nhật Bản buôn bán với Việt Nam. Trong giai đoạn này Nhật Bản chủ yếu nhập khẩu hàng tơ lụa, trầm hương, gỗ, thạch anh, sơn mài, đồ sứ, dầu thông, nhục quế, kẽm, tô mộc… và xuất khẩu chủ yếu sản phẩm công nghiệp, đồ dân dụng như kim loại, gươm, áo giáp, thuỷ tinh, đồ trang sức …Chính vì vậy, trong giai đoạn này Hội An rất nhộn 14 nhịp với việc người Nhật Bản thành lập khu phố của người Nhật với lối sống riêng, phong tục riêng. Con phố này dài tới gần 2km, đã có lúc có tới hơn 100 hộ với gần 1000 người Nhật Bản lưu trú tại đây.
Cố đạo người Bồ Đào Nha đến Hội An năm 1618 đã ghi trong ký sự của mình rằng: “Người Trung Quốc và người Nhật Bản là những người buôn bán chính yếu ở Đàng Trong, tại một cảng ở đây. Thành phố ấy gọi là Faifo (Hoài Phố) lớn đến mức có thể nói là gồm hai con phố, một nửa của người Trung Quốc và một nửa của người Nhật Bản”. Nhà nghiên cứu Nhật Angurao Sadao đã viết trong tác phẩm”Người Nhật thời kỳ Châu Ấn thuyền”như sau: “So với phố của người Hoa thì phố Nhật bao gồm cả những ngôi nhà hai tầng, có cấu trúc cầu kỳ hơn, các ngôi nhà làm san sát vào nhau. Trong đó có những ngôi nhà làm ba tầng rất cầu kỳ.
Ở những ngôi nhà nhìn ra đường có làm hiên để chống nóng. Không có chỗ nào là không giống dáng dấp của những căn nhà của dòng họ Chaya ở Owari”. Ông cũng là người lập ra bản đồ hàng hải Giao Chỉ “Giao Chỉ mậu dịch độ hải đồ” trong đó có kèm theo một bức tranh vẽ phố Hội An và có tên gọi là tranh Chaya, hiện tại được lưu giữ tại Chùa Jomyo ở thành phố Nagasaki – Nhật Bản. Và đặc biệt tại nhà thờ dòng họ Chaya ở Nagoya (tỉnh Aichi ngày nay) còn giữ một bức tượng Phật Bà Quan Âm do Chúa Nguyễn tặng và một bức hoạ mang hình ảnh chiếc tàu buôn của dòng họ Chaya đến Hội An.
Trong giai đoạn 1600 chế độ Mạc Phủ Tokugawa ra đời có thể coi là thời kỳ phát triển nhất và cũng là cuối cùng của chế đố phong kiến Nhật Bản (kết thúc vào năm 1868). Trong giai đoạn này chính sách giao lưu với bên ngoài rất được coi trọng đặc biệt là với Anh và sau này là Hà Lan và Bồ Đào Nha. Bên cạnh đó, Tokugawa cũng tăng cường ảnh hưởng của Nhật Bản bằng cách tăng cường việc cho phép các thuyền của Nhật tới một số nước Châu Âu và Châu Á. Do vậy, việc hình thành các Phố Người Nhật ở nước ngoài là một tất yếu.
Con Phố Nhật được hình thành sớm nhất là ở Luzon (Philippin) vào năm 1603, sau đó là ở Phnompenh (Campuchia) năm 1618, Hội An (Việt Nam) 1617 bên cạnh khu phố của người Trung Quốc. Tuy nhiên, trong giai đoạn này người Nhật không chỉ tập 15 trung buôn bán ở Hội An mà cũng buôn bán rất sớm với Phố Hiến (Hưng Yên ngày nay), Thanh Hà (Huế), Touran (Đà Nẵng). Năm 1635, do lệnh bế quan tỏa cảng của Nhật Bản mà việc thông thương giữa Nhật Bản và Việt Nam bị gián đoạn. Một số người Nhật lưu lại tại Hội An và sinh sống tại đây.
Trong số đó có Araki Sotaro và Shicho Eikichi. Năm 1626 Satoro kết hôn với công chúa Ngọc Vạn (con chúa Nguyễn Phúc Nguyên). Trong thời gian ở Hội An Araki Satoro đã giúp Chúa Nguyễn Phúc Nguyên hàng năm tổ chức đội thuyền ra quần đảo Hoàng Sa để thu hàng hoá, vũ khí của các tàu bị đắm và hải vật. Đây cũng có thể là một chứng cứ lịch sử được nghi chép lại không những ở Việt Nam mà còn ở Nhật Bản về chủ quyền của Việt nam ở quần đảo Hoàng Sa.
Ở thời kỳ này, tuy Nhật thực hiện chính sách cấm xuất ngoại, buôn bán với nước ngoài, nhưng Chúa Nguyễn vẫn gửi một bức thư cho Mạc Phủ Tokugawa yêu cầu mở lại quan hệ buôn bán và mong nhập nhiều tiền đồng. Theo giáo sư Nhật Bản Kawamoto thì bức thư này có nội dung như sau: “Tôi thầm nghĩ, nước tôi bây giờ cần rất nhiều kinh phí cho lưu thông tiền tệ, nhưng kỹ thuật chế tạo tiền không có, nên đành phải phải gác vấn đề tài chính lại. Tôi nghe rằng, ở quí quốc sản xuất đồng tốt và chế tạo tiền tuỳ theo nhu cầu. Nếu thật như thế, tại sao không chế thật nhiều tiền đồng để cứu những người nghèo về tiền tệ.
Điều mong muốn đối với quí quốc là quí quốc làm luật lưu thông tiền tệ ở nước ngoài và giao dịch với nước tôi để hai quốc gia chúng ta cùng được lợi. Nếu được như thế, lưỡng tiện sẽ thông qua tình hữu nghị, xây đắp tín nghĩa, hai quốc gia trở thành một mái gia đình. Đây là một điều thật tuyệt vời”. Lúc bấy giờ tiền đồng là phương tiện chủ yếu để thông thương.
Nhà nghiên cứu Iwao Sheiichi cho rằng, mỗi thuyền của Nhật khi đến Hội An tối thiểu là mang khoảng 400.000 tiền đồng, lúc nhiều nhất lên tới 1. Họ mua bán rất nhiều đồ tơ lụa và đồ sứ. Những điều này chứng tỏ rằng quan hệ kinh tế, văn hoá giữa Nhật Bản và Đàng Trong, Đàng Ngoài đã rất phát triển. Ngoài Nhật Bản, có Trung Quốc, Hà Lan… có quan hệ buôn bán với Việt Nam, nhưng Chúa Nguyễn có phần ưu ái hơn 16 đối với các nhà thương gia người Nhật.
Và Hội An cũng là cảng chính của Nhật Bản khi họ thông thương với các quốc gia ở Đông Nam Á. Trong những năm chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản đã đưa quân vào Việt Nam. Năm 1945 tranh thủ thời cơ thuận lợi, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành cách mạng tháng 8 – 1945 thành công, dành được chính quyền từ tay phát xít Nhật. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ mặc dù Nhật Bản là đồng minh của phương Tây, nhưng một mặt Nhật lại viện trợ cho chính quyền Việt Nam cộng hòa.