Chương 1 TIỀN ĐỀ CỦA MỐI QUAN HỆ EU - ẤN ĐỘ 1. Bối cảnh quốc tế, tình hình EU và Ấn Độ sau Chiến tranh lạnh 1. Bối cảnh quốc tế Chiến tranh lạnh kết thúc mở ra giai đoạn mới trong lịch sử quan hệ quốc tế: trật tự lưỡng cực tan vỡ và thế giới đang từng bước xây dựng một trật tự mới - trật tự thế giới đa cực. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức để các quốc gia tự tìm kiếm một vị trí thích hợp trên bàn cờ chính trị quốc tế.
EU và Ấn Độ cũng tận dụng tranh thủ thời cơ này để trở thành một cực quan trọng trong trật tự đa cực ngày nay. Mỹ là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh lạnh. Liên Xô sụp đổ, Đông Âu tan rã khiến Mỹ không còn kẻ thù nguy hiểm, đó là lợi thế để Mỹ gia tăng ảnh hưởng chính trị trên toàn thế giới. Với sự năng động và nhạy bén của nền kinh tế, nước Mỹ luôn là nền kinh tế hàng đầu thế giới trong nhiều năm liền.
Về quân sự, từ trước tới nay chỉ có Liên Xô có đủ sức mạnh quân sự có thể cạnh tranh với Mỹ, nay Liên Xô không còn, Mỹ trở thành cường quốc số một. Với sức mạnh vượt trội về kinh tế, chính trị, quân sự, Mỹ tin tưởng rằng mình sẽ dễ dàng lãnh đạo thế giới và xây dựng thế giới đơn cực mới do Mỹ đứng đầu. Tuy nhiên, trên thực tế Mỹ khó có thể điều khiển thế giới theo ý mình. Đầu thập niên 1990, EU và Nhật Bản thách thức vị trí số một của nền kinh tế Mỹ.
Cùng với sức mạnh kinh tế, Nhật Bản và EU cũng tự chủ và độc lập hơn trong các mối quan hệ quốc tế. Ngay cả Trung Quốc, Ấn Độ sau một thời gian ổn định và phát triển kinh tế trong nước cũng đang từng bước mở rộng ảnh hưởng ra toàn thế giới với mong muốn xây dựng thế giới đa cực chống lại tham vọng “bá quyền thế giới” của Mỹ. Một thế giới đa cực đang hình thành. Các cường quốc đang vừa hợp tác vừa cạnh tranh để gia tăng sức mạnh của bản thân, thiết lập một vị trí thuận lợi cho mình.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế khu vực hóa phát triển. Đây là nhân tố làm tăng sự liên kết không những về kinh tế mà cả về chính trị giữa các nước. Các tổ chức 10 khu vực ra đời với nhiệm vụ bảo vệ lợi ích của các thành viên ngày càng thu hút được sự tham gia của nhiều quốc gia. Sự ra đời của các liên kết khu vực đã tác động đến quan hệ quốc tế.
Nền chính trị thế giới có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng gia tăng tính hợp tác giữa các chủ thể quan hệ quốc tế. Các nước lớn vẫn đóng vai trò là các “diễn viên” chính trên sân khấu chính trị nhưng các quốc gia vừa và nhỏ cũng trở thành những mắt xích quan trọng, vai trò của các nước vừa và nhỏ cũng được nâng cao trên diễn đàn quốc tế và khu vực. Một đặc điểm khác của bối cảnh quốc tế trong kỷ nguyên cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia. Toàn cầu hoá không chỉ tạo ra những liên đới mạnh mẽ về kinh tế, mà còn thúc đẩy mối quan hệ liên quốc gia tăng cả về bề rộng lẫn chiều sâu.
Tự do hoá kinh tế và cải cách thị trường trên toàn cầu diễn ra phổ biến, các nền kinh tế dựa vào nhau, liên kết với nhau, xâm nhập lẫn nhau, khiến cho tính lệ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng. Toàn cầu hoá thúc đẩy hợp tác, phân công lao động quốc tế sâu rộng, kích thích tăng trưởng kinh tế. Các hình thức hợp tác, liên kết kinh tế trở nên nhiều và rất phong phú về nội dung. Mặt khác những lợi ích và bất lợi do toàn cầu hoá tạo ra không được chia sẻ một cách đồng đều, làm trầm trọng thêm khoảng cách phát triển giữa các xu thế của lịch sử, toàn cầu hoá lôi cuốn tất cả các nước tham gia và mỗi nước cần xác định được cho mình đường lối hội nhập quốc tế một cách thích hợp.
Toàn cầu hóa làm gia tăng sự thụ thuộc giữa các quốc gia. Xu thế toàn cầu hóa đã ảnh hưởng rất nhiều tới nhận thức của các quốc gia về hợp tác quốc tế, thời đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều nhấn mạnh đến hợp tác kinh tế cũng như sức mạnh kinh tế của các quốc gia. Sau một thời gian chìm đắm trong chiến tranh và đối đầu ý thức hệ, giờ đây các quốc gia đều mong muốn ổn định và hòa bình để tập trung phát triển kinh tế. Lợi ích kinh tế được đặt lên vị trí hàng đầu bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến sức mạnh quốc gia cũng như vị thế quốc gia đó trên trường quốc tế.
Bất kỳ quốc gia nào cũng muốn mở rộng giao lưu và hội nhập vào cộng đồng quốc tế trong hệ thống quốc tế mới. Mà muốn làm được điều đó, trước tiên 11 phải có tiềm lực về kinh tế, bởi vậy không khó khăn gì để nhận ra rằng sau Chiến tranh lạnh, hợp tác kinh tế trở thành chính sách ưu tiên của mỗi quốc gia. Sự phát triển về kinh tế làm gia tăng sự gắn kết giữa các quốc gia về chính trị và an ninh. Ngày nay, an ninh kinh tế trở thành nhân tố quan trọng góp phần đảm bảo an ninh quốc gia.
Các nước đều hiểu rằng lợi ích kinh tế của họ phụ thuộc vào những tác động của yếu tố an ninh bên ngoài. Vì thế, hầu hết các quốc gia đều tăng cường xây dựng quan hệ hợp tác toàn diện với các quốc gia khác, nó vừa đảm bảo lợi ích kinh tế cho mỗi bên lại vừa nâng cao được vị thế chính trị của các quốc gia trên bàn cờ chính trị thế giới. Thế giới đang chuyển sang một kỷ nguyên phát triển mới, dựa trên những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Cách mạng khoa học - công nghệ làm bùng nổ những thành tựu trong các ngành mũi nhọn như điện tử - tin học, vật liệu mới, năng lượng mới… thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới phát triển mạnh mẽ chưa từng thấy, đồng thời đưa đến sự phát triển, biến đổi theo chiều sâu các lĩnh vực đời sống xã hội.
Cách mạng khoa học - công nghệ khiến cho sự phát triển kinh tế ngày càng phụ thuộc nhiều vào nhân tố tri thức, tạo ra bước ngoặt mang ý nghĩa lịch sử. Mức độ phát triển kinh tế tri thức trở thành một tiêu chí, thước đo hàng đầu của trình độ phát triển của mỗi quốc gia hiện nay. Những vấn đề toàn cầu đang nổi lên: Mặc dù hòa bình, ổn định và phát triển là xu thế chủ yếu của thế giới sau Chiến tranh lạnh, tuy nhiên bên cạnh những xu thế đó, thế giới vẫn tồn tại không ít những nguy cơ, thách thức khó đoán định. Các cuộc xung đột sắc tộc, dân tộc, tôn giáo.
vẫn đang diễn ra ở nhiều nơi. Các lực lượng phản động, cực đoan, phát xít, chủ nghĩa khủng bố. vẫn hoạt động ở một số quốc gia với nhiều mức độ khác nhau. Một số tổ hợp công nghiệp quân sự đang sản xuất và tiêu thụ một khối lượng vũ khí lớn, đang kích động và nuôi dưỡng những cuộc chiến tranh gây mất ổn định an ninh thế giới.
Ngoài ra, thế giới cũng xuất hiện nhiều vấn đề toàn cầu trầm trọng như ô nhiễm môi trường, đói nghèo, dịch bệnh, thiên tai, tội phạm xuyên quốc gia, phổ biến vũ khí hạt nhân… Cộng đồng quốc tế phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa 12 an ninh mới phi truyền thống đòi hỏi phải có sự hợp tác của nhiều quốc gia mới có thể giải quyết. Tóm lại, Chiến tranh lạnh chấm dứt, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã mở ra một cục diện mới trong tình hình quốc tế. Trước hết đó là xu thế đối đầu được thay thế bằng xu thế đối thoại, hợp tác phát triển cùng tồn tại hòa bình ngày càng chiếm ưu thế. Các quốc gia, dân tộc đang cố gắng tìm kiếm sự ổn định mới, một sự tập hợp lực lượng mới trên phạm vi toàn thế giới cũng như từng khu vực sao cho đảm bảo lợi ích các bên có liên quan.
Trong đó các nước vừa hợp tác vừa đấu tranh, song đấu tranh chỉ nhằm mục đích xác nhận lại lợi ích của các bên và đạt được một sự hợp tác có hiệu quả chứ không phải là đấu tranh để loại trừ lẫn nhau. Hai là, nhu cầu về sự phát triển kinh tế trở thành ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối nội, đối ngoại của tất cả các nước. Lợi ích quốc gia là nhân tố chi phối chính sách đối ngoại của các nước nhất là trong điều kiện sự phát triển ngày càng tùy thuộc lẫn nhau trong kỷ nguyên phát triển cao độ nền khoa học công nghệ tiên tiến. Ba là, đi đôi với xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa thì xuất hiện xu thế liên kết khu vực với việc thành lập các khu vực thương mại tự do như NAFTA, AFTA…đây được coi là bước đi đầu tiên dẫn đến tự do hóa thương mại toàn cầu tạo ra thị trường chung của thế giới.
Trong bối cảnh mới của thế giới sau Chiến tranh lạnh để thực hiện các mục tiêu của mình cả EU và Ấn Độ đều điều chỉnh chính sách và xây dựng biện pháp thực hiện nhằm đưa quan hệ EU - Ấn Độ phát triển phù hợp với tình hình mới. Tình hình EU Khi nghiên cứu về lịch sử châu Âu, các nhà nghiên cứu lịch sử đều nhận ra một điều là ý tưởng xây dựng một châu Âu thống nhất không phải là một ý tưởng mới, mà đã có từ lâu đời. Trải qua nhiều biến cố trong những thời đại khác nhau, đã có những nhân vật nổi tiếng châu Âu từng bày tỏ quan điểm về việc xây dựng châu 13 Âu, điển hình Napoléon Bonaparte 1. Ông đã từng nói: “Chức phận của tôi vẫn chưa hoàn thành, tôi muốn hoàn thành cái điều mới chỉ được phác họa, tôi phải làm một bộ luật châu Âu (…), một đồng tiền chung cũng châu Âu, các đơn vị đo lường, các quy tắc châu Âu.
Tôi phải biến tất cả các dân tộc châu Âu thành một dân tộc và Paris thành thủ đô của thế giới” [32; tr4]. Tuy nhiên trong một thời gian rất dài, ý tưởng thống nhất châu Âu chỉ là của một số ít người, lạc lõng và chưa được sự đồng ý tán thành.