Chương 1 NHUNG YEU TO TÁC DONG DEN QUAN HE AN NINH, QUOC PHONG LIEN MINH CHAU AU - MY (2009 - 2021) 1. Yếu tố chủ quan 1. Quan hệ Liên mình châu Âu - Mỹ Mỹ luôn coi châu Âu là trọng điểm chiến lược. Mục tiêu xuyên suốt của Mỹ là duy trì vị thế, tầm ảnh hưởng tại châu Âu; kiềm chế các đối thủ tiềm năng, đặc biệt là Nga; ủng hộ công cuộc cải cách ở Nga, các nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập và các nước Đông Âu, qua đó thúc đây quá trình chuyên đổi sang nền kinh tế thị trường ở những quốc gia này [Lê Linh Lan, 2015].
Sau khi Tổng thống Mỹ George Bush lên cầm quyền vào năm 2001, ngoài tăng cường thêm lực lượng ở châu Âu, Mỹ bắt đầu chuyền trọng tâm chiến lược toàn cầu sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương, với mục đích duy trì địa vị siêu cường trong thé kỷ mới. Dưới thời Tổng thống Barack Obama, Mỹ tiếp tục kế thừa chính sách của các chính quyên tiền nhiệm đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương với chiến lược “xoay trục” - “tái cân bằng” thông qua một kế hoạch thống nhất, toàn diện trong nhiều lĩnh vực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, ngoại giao, trong bối cảnh khu vực này có nền kinh tế phát triển, năng động và thách thức ngày càng gia tăng từ sự trỗi dậy của Trung Quốc. Trong khi đó, châu Âu trải qua nhiều khủng hoảng, cũng như xu hướng độc lập gia tăng của EU. Tuy nhiên, bất chấp châu Á đang ngày càng trở nên quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, châu Âu vẫn là khu vực được Tổng thống Obama xác định là một trong những hòn đá tảng cho chính sách đối ngoại của Mỹ.
Cơ sở hoạch định chiến lược đối ngoại của Mỹ đối với EU không chỉ dựa trên mối quan hệ khăng khít về lịch sử và văn hóa lâu đời với EU, mà còn dựa trên những lợi ích sống còn của Mỹ ở châu Âu trong thời kỳ mới. Tại cuộc gặp gỡ đầu tiên về an ninh giữa hai bờ Đại Tây Dương - Hội Nghị An ninh 13 Munich lần thứ 45 (năm 2009), Phó Tổng thống Mỹ Joe Biden đã xoa dịu các nhà lãnh đạo châu Âu rằng mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương đã được đặt vào trong tâm của chính sách đối ngoại của Chính quyền mới, đồng thời nhân mạnh Mỹ sẽ là một “đồng minh biết lắng nghe”, trong bối cảnh Mỹ và các đồng minh châu Âu xuất hiện nhiều vết rạn khi Chính quyền George Bush đưa quân vào Iraq, bat hợp tác trong van đề khí hậu và căng thắng trong quan hệ với Nga. Về tông thể, quan hệ EU - Mỹ dưới thời Tổng thống Barack Obama có những “nốt thăng tram” nhất định. Giai đoạn đầu “tuần trăng mật” của quan hệ EU - Mỹ bắt đầu ngay trước khi Tổng thống Barack Obama bước chân vào Nhà Trắng.
Bài phát biểu tại Berlin (Đức) năm 2008 của Ứng cử viên Tổng thống Barack Obama lúc đó nhấn mạnh “Mỹ không có đối tác nào tốt hơn châu Âu” và “cần một EU mạnh mẽ góp phần tăng cường an ninh và thịnh vượng của lục địa này”. Lời phát biểu này đã thuyết phục hầu hết giới chức EU, nhất là khi họ đang chờ đợi sự thay đổi sau kỷ nguyên “đi một mình” của Tổng thống George W. Các cuộc thăm dò tại châu Âu cho thấy có đến 69% người châu Âu tin tưởng nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Barack Obama sẽ diễn ra thuận lợi. Hop tác kinh tế, thương mại EU - Mỹ có bước phát triển khả quan.
Mỹ là đối tác thương mại lớn nhất của châu Âu. Năm 2011, kim ngạch trao đôi thương mại hai chiều giữa Mỹ và châu Âu mới đạt 449 tỷ euro. Chỉ một năm sau, con số này đã tăng lên 646 tỷ euro [Huyền Anh, 2013]. Năm 2012 Mỹ là nhà đầu tư lớn nhất của EU với 99 tỷ euro, chiếm 66% tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào EU và dòng vốn trực tiếp nước ngoài giữa hai bờ Đại Tây Dương lên tới 1.
Dang chú ý, Tổng thống Barack Obama khang định quan hệ Mỹ - EU là mối quan hệ lớn nhất trên thé giới và hợp tác song phương sẽ làm sâu sắc thêm các mối quan hệ, trong đó có tăng cường xuất khâu, giảm rào cản thương mại và đâu tư, trong chiên lược phát triên rộng lớn 14 hơn của cả hai nền kinh tế và mở ra nhiều cơ hội việc làm ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Thúc đây tiến trình Hiệp định Đối tác Thương mại và Đầu tư xuyên Đại Tây Dương (TTIP) được đánh giá là một trong những ưu tiên dưới thời Tổng thống Barak Obama. Nếu đàm phán thành công, mỗi năm TTIP có thể giúp tăng thêm từ 0,5-1% GDP cho cả hai bên, góp phan tạo ra hàng triệu việc làm mới. TTIP cũng có thể mang lại cho nền kinh tế EU khoảng 119 ty euro/năm, được coi là “lối ra” cho Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) đang chìm trong suy thoái và thất nghiệp.
Trong khi đó, nền kinh tế Mỹ có thể thu về 95 tỷ euro hằng năm, thúc đây đà phục hồi kinh tế và cải thiện tỷ lệ thất nghiệp. Về lĩnh vực an ninh, quốc phòng, các nước thành viên EU là những đồng minh thân cận nhất của Mỹ trong khuôn khổ NATO, vốn là công cụ hữu hiệu giúp Mỹ đạt được những mục tiêu chiến lược của mình ở châu Âu trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai, bao gồm: (i) Giúp Mỹ mở rộng quyền lực sang châu Âu, qua đó nắm giữ và khống chế châu lục này trong tầm kiêm soát; (ii) Ngăn chặn nguy cơ “chủ nghĩa cộng sản” lan ra toàn châu Âu; (iii) Kiém chế tam ảnh hưởng và tinh tự chủ ngày càng gia tăng của EU. Ở chiều ngược lại, NATO giúp châu Âu ngặn chặn sự phát triển của lực lượng cộng san ở trong nước, dam bảo an ninh, lay lai vi thé trén truong quốc tế. Chính vì vay, hợp tác quốc phòng, an ninh EU - Mỹ luôn là chất keo kết dính, tạo nên mối quan hệ mật thiết xuyên Đại Tây Dương.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh NATO ngày 09/7/2016 tại Warsaw (Ba Lan), Tổng thống Barack Obama khang định: “Trong những ngày rủi ro hay tốt lành, châu Âu đều có thể trông cậy vào Mỹ” [Thông tấn Xã Việt Nam, 2016]. Chính quyền Barack Obama chủ trương tăng cường sức mạnh của khối đồng minh quân sự NATO và triển khai các hệ thống đánh chặn tên lửa ở Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Romania. Bên cạnh đó, mối quan hệ EU - Mỹ cũng tồn tại không ít thách thức 15 dưới thời Chính quyền Barack Obama. Sau khi đến thăm châu Âu sáu lần trong năm 2009 và tham dự các hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - EU ở Praha cũng như ở Washington (2009), Tổng thống Barack Obama cảm thấy “không ấn tượng” với các hội nghị xuyên Đại Tây Dương, đồng thời quyết định không tham dự hội nghị Thượng đỉnh Mỹ - EU tại Madrid (Tây Ban Nha) năm 2010.
Ngoài ra, sự vắng mặt của Tổng thống Barack Obama tại lễ kỷ niệm 20 năm Bức tường Berlin sụp đồ ngày 09/11/2009 đã kéo theo sự chỉ trích gay gắt từ cả phía EU và Mỹ. Trong giai đoạn này, một số mâu thuẫn của Mỹ và EU cũng trở nên nghiêm trọng hơn liên quan đến cuộc chiến tại Afghanistan. Từ đó dẫn đến quyết định điều động 30.000 lính Mỹ đến Afghanistan, ấn định thời hạn rút quân vào cuối năm 2014. Phản ứng trước động thái này của Chính quyền Barack Obama, một số nước EU, trong đó có Pháp, sớm triển khai kế hoạch rút quân khỏi Afghanistan.
Đặc biệt, liên quan đến ngân sách quốc phòng, Lầu Năm Góc đưa ra khái niệm mới về “phòng thủ thông minh”, “chia sẻ gánh nặng” nhăm đòi hỏi EU thực hiện day đủ trách nhiệm va mức chi tiêu cho quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, do khủng hoảng kinh tế và nợ công ngày càng gia tăng, các nước EU, nhất là ở phía Nam châu Âu, khó có thể đáp ứng những yêu cầu này. Năm 2011, theo cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates, chỉ có 5 trong 28 nước NATO gồm Mỹ, Anh, Đức, Pháp va Albania vượt mức chi tiêu quốc phòng 2% GDP theo thỏa thuận. Đáng chú ý, cùng với chiến lược quốc phòng mới của Mỹ được công bồ vào tháng 01/2012, trong đó khang định việc chuyên trọng tâm sang khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, vụ bê bối liên quan đến Chương trình giám sát PRISM (Planning Tool for Resource Integration, Synchronization, and Management) năm 2013 được tiết lộ bởi cựu nhân viên Cơ quan tình báo Trung ương Mỹ (CIA) Edward Snowden đã làm cho quan hệ Mỹ - EU trở nên căng thang, tao ra một cuộc khủng hoảng lòng tin.
Đức, Pháp là những quốc gia có phản ứng mạnh mẽ nhất khi tuyên bố tìm kiếm các thỏa 16 thuận song phương với Mỹ dé áp đặt các quy định nghiêm ngặt đối với hoạt động giám sát. Thậm chí, Đức còn đề xuất một thỏa thuận song phương không hoạt động gián điệp với Mỹ, song đều bị Mỹ từ chối. Dưới thời Tổng thống Donald Trump, dù Chiến lược An ninh quốc gia Mỹ 2017 tiếp tục khăng định Mỹ sẽ an toàn hơn khi châu Âu thịnh vượng, ồn định, đồng thời có thể giúp Mỹ bảo vệ các ưu tiên và giá trị, nhưng mối quan hệ Mỹ - EU trên thực tế được đánh giá ở mức thấp nhất. Trước thềm Hội nghị thượng đỉnh EU tại Malta năm 2017, Chủ tịch Hội đồng châu Âu Donald Tusk nhận định rằng Mỹ dường như là “một mối đe dọa bên ngoài”, bên cạnh “chính sách cứng rắn của Nga”, một “Trung Quốc quyết đoán” và “những cuộc chiến tranh, khủng bố và tình trạng vô chính phủ tại Trung Đông, châu Phi”, đồng thời kêu gọi 27 nhà lãnh đạo các nước thành viên EU cùng nhau thực hiện một chính sách đối ngoại và quốc phòng chung mới của EU nham đảm bao lợi ích địa chính trị, kinh tế chung, trong trường hợp can thiết có thé đối lập với Mỹ.
Mối lo ngại của EU xuất phát từ quan điểm “Nước Mỹ trước tiên” của Tổng thống Donald Trump, vốn chi phối hầu hết các quyết sách quan trọng của Mỹ cũng như quan hệ của Mỹ với các đồng minh, khiến EU liên tục gặp bat lợi trên nhiều mặt. Về kinh tế, Chính quyền Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran khiến nhiều công ty châu Âu bị thiệt hại lớn; áp mức thuế cao với nhiều sản phẩm của EU xuất khâu sang Mỹ, nhất là nhôm, thép.