Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử "Quan hệ Australia - Việt Nam trong giai đoạn 1973-1995" do nghiên cứu sinh Trịnh Thị Định thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) năm 2001, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Văn Hồng, thuộc chuyên ngành Lịch sử cận đại và hiện đại (Mã số: 5.04).
Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công tác đối ngoại Việt Nam sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, với nhiệm vụ chiến lược là: "tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn là bạn của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển". Để hiện thực hóa mục tiêu này, việc nghiên cứu có hệ thống và khoa học về đường lối, chính sách cụ thể, bối cảnh lịch sử và các nhân tố tác động đến quan hệ giữa các quốc gia với Việt Nam trở thành yêu cầu bức thiết.
Về khoảng trống nghiên cứu, tại Việt Nam ở thời điểm thực hiện đề tài, các công trình nghiên cứu về Australia nói chung và quan hệ Australia - Việt Nam nói riêng hầu như còn bỏ ngỏ, chủ yếu dừng lại ở các bài viết tổng thuật, lược dịch hoặc đề cập tản mát trong các nghiên cứu rộng về khu vực Đông Nam Á. Trong khi đó, giới học giả Australia đã đẩy mạnh nghiên cứu về Việt Nam từ sau năm 1975 theo nhãn quan riêng của họ. Do đó, việc xây dựng một công trình toàn diện, có hệ thống từ quan điểm sử học Mácxít của một nhà nghiên cứu Việt Nam là nhiệm vụ khoa học cần thiết. Mặc dù sau năm 1975, Việt Nam và các nước Đông Dương không thuộc diện ưu tiên cao nhất trong chính sách của Australia so với khối ASEAN, song các diễn biến địa - chính trị tại Đông Dương lại tác động trực tiếp đến an ninh, đối ngoại và chính sách khu vực của Australia.
Luận án xác định bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Trình bày quá trình hình thành và phát triển quan hệ Australia - Việt Nam, trong đó nêu lên những thành tựu và hạn chế của mối quan hệ này qua từng giai đoạn.
- Xác định các điều kiện và yếu tố tác động đến quá trình hình thành và phát triển quan hệ Australia - Việt Nam.
- Xác định vị trí của quan hệ với Việt Nam trong tương quan so sánh với các mối quan hệ với các quốc gia Đông Nam Á và trong chính sách đối ngoại của Australia nói chung.
- Nêu lên những nhận xét về đặc điểm tính chất của quan hệ Australia - Việt Nam, đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm về sự phát triển quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa nước ta với các nước không cùng hệ thống chính trị xã hội trong bối cảnh chính trị quốc tế và khu vực có nhiều biến động.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là tiến trình quan hệ song phương giữa Australia và Việt Nam trong hơn hai thập kỷ (1973–1995), bao gồm bối cảnh lịch sử, hoạch định chính sách của hai chính phủ, các yếu tố tác động, các vấn đề nảy sinh, diễn biến thực tế cùng các thành tựu và hạn chế.
Về phạm vi không gian, luận án tập trung vào quan hệ song phương giữa Australia và Việt Nam. Chủ thể Việt Nam được xác định là nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và từ tháng 7 năm 1976 là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (giai đoạn trước 1973 có xem xét bối cảnh chia cắt hai miền, nhưng danh xưng Việt Nam tại Chương 1 được hiểu là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa). Nghiên cứu đặt mối quan hệ này trong sự tương tác với các chủ thể quốc tế và khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Hoa Kỳ và Trung Quốc.
Về phạm vi thời gian, luận án bắt đầu từ năm 1973 (thời điểm thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai nước) và kết thúc vào năm 1995. Mốc năm 1995 được lựa chọn vì đây là thời điểm Việt Nam bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, chính thức gia nhập ASEAN (tháng 7/1995) và chuyến thăm chính thức Australia của Tổng Bí thư Đỗ Mười diễn ra trong cùng năm. Những sự kiện này đánh dấu sự thay đổi căn bản về môi trường quốc tế và khu vực, đưa quan hệ Australia - Việt Nam bước sang một giai đoạn phát triển mới có tính ổn định và bền vững hơn trong khuôn khổ chính sách tổng thể của Australia đối với ASEAN.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả luận án đã tiến hành khảo sát và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo từng nhóm nguồn tư liệu và không gian nghiên cứu:
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về Australia chỉ mới bắt đầu phát triển từ cuối thập niên 1990. Tiêu biểu là các hoạt động học thuật của Khoa Đông phương (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh) với hai hội thảo khoa học vào các năm 1997 và 1999, dẫn đến sự ra đời của kỷ yếu Hành trình vào Australia (1998). Viện Đông Nam Á xuất bản cuốn Australia ngày nay do TS. Vũ Tuyết Loan chủ biên (1998, tái bản 1999) nhằm giới thiệu tổng quan về đất nước và con người. Về khía cạnh đối ngoại, giai đoạn trước năm 1998 có một số bài viết của Đỗ Thị Hạnh, Nguyễn Bảo Thanh Nghi mang tính tổng thuật và lược dịch. Đến năm 1999, TS. Đỗ Thị Hạnh xuất bản công trình Quan hệ Australia với Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, bước đầu đánh giá tiến trình chính sách của Australia đối với khu vực, nhưng do phạm vi nghiên cứu rộng nên quan hệ với Việt Nam chỉ được đề cập ở mức độ hạn chế.
Tại Australia, mảng đề tài đối ngoại với khu vực Đông Nam Á được nghiên cứu sâu rộng tại các cơ sở học thuật lớn như Trung tâm Nghiên cứu Châu Á thuộc Đại học Quốc gia Australia (ANU), Trung tâm Nghiên cứu Quan hệ Australia - Châu Á (CSAAR) thuộc Đại học Griffith, và Trung tâm Đông Nam Á thuộc Đại học Monash. Các công trình tiêu biểu gồm bộ sách Australia and the World Affairs qua các giai đoạn:
- Giai đoạn 1970–1975 do John Ingleson viết phần Đông Nam Á (xuất bản năm 1980).
- Giai đoạn 1976–1980 trong Independence and Alliance do J. R. Angel phân tích (1983).
- Giai đoạn 1981–1990 trong Diplomacy in the Marketplace của J. R. Angel (1992).
- Chuyên mục của Carlyle Thayer trong cuốn Australia in a Changing World: New Foreign Policy Directions do F. A. Mediansky chủ biên.
- Tác phẩm Australian Foreign Relations in the World of the 1990s của cựu Ngoại trưởng Gareth Evans và Bruce Grant.
Các báo cáo tổng kết của cơ quan lập pháp Australia cũng được khai thác, bao gồm báo cáo năm 1979 của Ủy ban Thường trực Thượng viện về Đối ngoại và Quốc phòng mang tên Australia and ASEAN, và báo cáo năm 1984 của Ủy ban Hỗn hợp Đối ngoại và Quốc phòng Quốc hội Australia mang tên Australia and ASEAN: Challenges and Opportunities.
Về các công trình đề cập trực tiếp đến chính sách của Australia đối với Việt Nam và Đông Dương:
- Frank Frost và Carlyle Thayer với công trình Australia and Vietnam 1950-1980 (1980), phân kỳ và phân tích chính sách hòa giải của Australia giai đoạn 1975–1978 nhằm thúc đẩy Việt Nam hội nhập khu vực.
- TS. Pheuiphanh Ngaosyvathn (CSAAR, Đại học Griffith) với công trình Strategic Involvement and International Partnership: Australia's Post-1975 Relations with Cambodia, Laos and Vietnam (1993), chỉ ra vị trí thứ yếu của Đông Dương trong thang bậc ưu tiên đối ngoại của Australia.
- Philip O'Brien nghiên cứu về The Making of Australia's Indochina Policy under the Labor Government (1983-1986): the Policy of Circumspections? (1987).
- Về vấn đề người tỵ nạn Đông Dương: các công trình của Nancy Viviani (1984, 1996) phân tích áp lực từ ASEAN và khía cạnh nhân đạo; Peter Laurence (1983) nghiên cứu tác động của dư luận công chúng Australia.
- Về vấn đề Campuchia: các bài viết của H. S. Leng và S. Silwood trên Australian Outlook (1986); loạt bài định kỳ Problems in Australian Foreign Policy trên Australian Journal of Politics and History.
Về các nghiên cứu quốc tế khác:
- Các nhà nghiên cứu Liên Xô/Nga: K. V. Malakhovsky với các công trình Australia từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1969), Australia và châu Á (1969), Lịch sử Australia (1971), Australia - Có phải thời điểm đổi thay? (1987); I. A. Lebedev (1975); A. I. Martynov và V. P. Rusakov (1978); O. V. Ivanov (1984) nghiên cứu về quan hệ Australia - Trung Quốc trong tương quan với cuộc chiến tranh biên giới Việt - Trung và vấn đề Campuchia; N. P. Maletin phân tích quan hệ ASEAN - Australia.
- Học giả Nhật Bản: Tsutomu Kikuchi (1993) đánh giá vai trò của Bộ trưởng Ngoại giao Bill Hayden.
- Học giả Hoa Kỳ: Michael Haas (1991) phân tích những sáng kiến của Australia góp phần tháo gỡ bế tắc cho giải pháp hòa bình Campuchia.
Khoảng trống học thuật mà luận án lựa chọn giải quyết là: Trước thời điểm luận án hoàn thành, chưa có một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên biệt, có hệ thống và toàn diện nào ở Việt Nam khảo sát đầy đủ toàn bộ tiến trình hình thành, biến chuyển và phát triển của mối quan hệ song phương Australia - Việt Nam từ năm 1973 đến giữa thập niên 1990 dựa trên việc đối chiếu nguồn tài liệu song phương và đa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Mácxít, xem xét các hiện tượng, sự kiện ngoại giao trong mối liên hệ lịch sử cụ thể và quy luật vận động khách quan.
Về khung phân tích và khái niệm, luận án tiếp cận lợi ích quốc gia của Australia theo khung lý thuyết ba nhóm lợi ích được Gareth Evans và Bruce Grant xác lập:
- Nhóm lợi ích địa - chính trị hoặc an ninh chiến lược: Giữ vai trò chi phối hàng đầu, hướng tới việc bảo đảm an ninh lãnh thổ thông qua việc duy trì hòa bình, ổn định và môi trường thân thiện/trung lập tại các khu vực lân cận (được xác định cụ thể trong Sách trắng Quốc phòng năm 1987 của Australia gồm khu vực lợi ích quân sự trực tiếp và khu vực lợi ích chiến lược căn bản).
- Nhóm lợi ích kinh tế và thương mại: Thiết lập môi trường thương mại tự do, bình đẳng nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu tài nguyên khoáng sản, năng lượng, nông sản và sản phẩm công nghiệp chế tạo.
- Nhóm lợi ích trở thành "công dân quốc tế gương mẫu" (a good international citizen): Phát huy vai trò của một quốc gia tầm trung (middle power) tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề toàn cầu như giải trừ vũ khí hạt nhân, phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường và các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc.
Luận án cũng áp dụng khái niệm bước chuyển mang tính "tuyến phân thủy" (watershed) trong lịch sử đối ngoại Australia để mô tả giai đoạn cầm quyền của Công Đảng dưới thời Thủ tướng Gough Whitlam (1972–1975), khi Australia thiết lập tính độc lập tương đối trong chính sách đối ngoại khu vực so với các cường quốc đồng minh.
Về phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc: Phương pháp lịch sử tái hiện tiến trình quan hệ theo trật tự thời gian khách quan; phương pháp lôgíc làm sáng tỏ bản chất, nguyên nhân, hệ quả và mối tương quan giữa các chính sách đối ngoại.
- Phương pháp bổ trợ: Luận án sử dụng phương pháp thống kê dữ liệu kinh tế - viện trợ, lập bảng đối chiếu so sánh, phương pháp biên niên và phân tích biểu đồ.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu và trao đổi học thuật trực tiếp: Tác giả đã tiến hành phỏng vấn cựu Thủ tướng Australia Malcolm Fraser (ngày 26/2/1997 tại Melbourne), thư từ trao đổi với cựu Bộ trưởng Ngoại giao Anthony Street, và tham vấn ý kiến chuyên môn của các giáo sư David Chandler (Đại học Monash), Robert Manne (Đại học La Trobe), Derek MacDougall (Đại học Melbourne), Ben Kiernan (Đại học Yale).
Nguồn tư liệu sử dụng gồm:
- Văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam; nguồn tư liệu lưu trữ tại Cục Lưu trữ - Bộ Ngoại giao Việt Nam.
- Ấn phẩm chính thức do Nhà xuất bản Quốc gia Australia (AGPS) phát hành: Parliamentary Debates, The Commonwealth Record, Australian Foreign Affairs Record (trước đó là Current Notes on International Affairs), Annual Report và Backgrounder của Bộ Ngoại giao Australia.
- Báo cáo của các Ủy ban thuộc Thượng viện và Quốc hội Australia.
- Hồi ký chính trị của các nhà lãnh đạo Australia: Gough Whitlam, Malcolm Fraser, Bob Hawke, Bill Hayden.
- Số liệu thống kê từ Đại sứ quán Australia tại Hà Nội và các bộ ngành liên quan tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1 - Tiền đề lịch sử của quan hệ Australia - Việt Nam
Chương 1 phân tích vị thế quốc tế của Australia, các mối quan hệ đối ngoại nền tảng với các cường quốc và khu vực Đông Nam Á, cùng lịch sử quan hệ với Việt Nam trước mốc thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1973.
Về vị thế quốc tế, Australia là một thực thể địa - chính trị đặc thù: một xã hội phương Tây nằm ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Về nhân khẩu và văn hóa, mặc dù có khoảng 150 sắc dân, hạt nhân văn hóa vẫn là người Anglo-Saxon, tiếng Anh được sử dụng phổ biến nhất trong gia đình (khoảng 83%), Kitô giáo chiếm ưu thế (khoảng 86%). Thể chế chính trị được tổ chức theo mô hình quân chủ đại nghị kiểu Anh thuộc Khối Thịnh vượng chung, với sự điều hành luân phiên giữa Công Đảng và Liên Đảng Tự do - Quốc gia. Kinh tế mang tính chất tư bản chủ nghĩa phát triển, phụ thuộc lớn vào thương mại quốc tế. Sự mâu thuẫn giữa cội nguồn văn hóa - thể chế phương Tây và vị trí địa lý ở Nam bán cầu đã quy định nhận thức về an ninh của giới lãnh đạo Australia.
Về quan hệ với các cường quốc:
- Với Anh: Quan hệ từng là chỗ dựa an ninh truyền thống, nhưng suy giảm dần từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, đặc biệt sau sự kiện Anh gia nhập Khối Thị Thị trường chung châu Âu (EEC) năm 1973. Kim ngạch buôn bán của Australia với Anh giảm sút rõ rệt theo thời gian:
| Năm |
Tỷ trọng xuất khẩu sang Anh (%) |
Tỷ trọng nhập khẩu từ Anh (%) |
| 1949–1950 |
38,7 |
51,9 |
| 1969–1970 |
11,8 |
21,8 |
| 1979–1980 |
4,7 |
9,3 |
| 1985–1986 |
3,5 |
7,3 |
| 1995–1996 |
3,5 |
6,4 |
- Với Hoa Kỳ: Trở thành "hòn đá tảng" trong chính sách quốc phòng và đối ngoại thông qua Hiệp ước ANZUS (1951) và Hiệp ước SEATO (1954). Australia cho phép Hoa Kỳ đặt các căn cứ thông tin quân sự quan trọng (North West Cape, Pine Gap, Nurrungar) và gửi quân tham chiến tại miền Nam Việt Nam.
Về quan hệ với khu vực Đông Nam Á, từ sau năm 1945 đến đầu thập niên 1970, Australia thi hành Chiến lược phòng vệ tiền tiêu (Forward Defence Policy) dựa trên thuyết Domino để ngăn chặn làn sóng cách mạng giải phóng dân tộc và ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản. Australia tích cực triển khai Kế hoạch Colombo (tính đến cuối năm 1957 đã đào tạo 2.000 sinh viên Đông Nam Á và Nam Á; viện trợ 70 triệu USD tính đến hết năm 1956) nhằm tạo dựng ảnh hưởng kinh tế - xã hội tại các nước phi cộng sản.
Về quan hệ với Việt Nam trước năm 1973:
- Giai đoạn 1945–1949: Australia hầu như không có động thái ngoại giao chính thức nào công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, coi cuộc kháng chiến chống Pháp là vấn đề nội bộ thuộc địa của Pháp.
- Giai đoạn 1950–đầu 1960: Australia công nhận chính phủ Bảo Đại (1951), ủng hộ viện trợ quân sự của Pháp và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vào năm 1954, Bộ trưởng Ngoại giao Richard Casey đã từ chối đề nghị của Hoa Kỳ về việc can thiệp quân sự tập thể vào Điện Biên Phủ do lo ngại rủi ro quốc tế và do sự không tán thành từ phía chính phủ Anh.
- Giai đoạn can thiệp trực tiếp: Australia ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng hòa tại Sài Gòn, viện trợ kinh tế - quân sự và đưa quân trực tiếp tham chiến tại miền Nam Việt Nam, đẩy quan hệ với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào tình trạng đối đầu trực diện.
Chương 2 - Quan hệ Australia - Việt Nam từ khi thiết lập đến giữa thập niên 90
Chương 2 trình bày chi tiết tiến trình vận động của quan hệ song phương qua ba giai đoạn lịch sử kế tiếp nhau:
-
Giai đoạn 1973–1978:
Ngày 26 tháng 2 năm 1973, chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Gough Whitlam chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là một phần của sự chuyển hướng đối ngoại mang tính "tuyến phân thủy" nhằm đa dạng hóa quan hệ khu vực. Sau khi chiến tranh kết thúc (1975), cả chính phủ Công Đảng và chính phủ Liên Đảng kế nhiệm của Thủ tướng Malcolm Fraser (từ cuối năm 1975) đều duy trì chính sách viện trợ ODA và tiếp xúc ngoại giao với nước Việt Nam thống nhất. Mục tiêu của Canberra thời kỳ này là lôi kéo Việt Nam hội nhập vào khu vực để củng cố an ninh chung Đông Nam Á.
-
Giai đoạn 1979–1991:
Sau các sự kiện biến động chính trị năm 1979 tại Campuchia và vấn đề người tỵ nạn Đông Dương vượt biển, quan hệ hai nước bước vào thời kỳ căng thẳng.
- Dưới thời chính phủ Liên Đảng của Malcolm Fraser (1979–1983): Australia đình chỉ các chương trình viện trợ ODA song phương trực tiếp cho Việt Nam, phối hợp lập trường với Hoa Kỳ và ASEAN.
- Dưới thời chính phủ Công Đảng của Bob Hawke (1983–1991) với vai trò điều hành đối ngoại của Bộ trưởng Ngoại giao Bill Hayden và sau đó là Gareth Evans: Australia bắt đầu thực hiện chính sách tiếp cận độc lập hơn. Canberra khởi xướng các nỗ lực ngoại giao con thoi nhằm tìm kiếm giải pháp chính trị cho cuộc xung đột Campuchia, đồng thời gián tiếp duy trì các kênh viện trợ nhân đạo thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc. Cuối năm 1990, kế hoạch hòa bình của Gareth Evans đã đóng góp trực tiếp vào tiến trình ký kết Hiệp định Hòa bình Paris về Campuchia (tháng 10/1991).
- Giai đoạn nửa đầu thập niên 1990 (1991–1995):
Cùng với tiến trình Đổi mới của Việt Nam và việc giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia, quan hệ Australia - Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển toàn diện.
- Viện trợ phát triển: Năm 1991, Australia nối lại hoàn toàn ODA song phương cho Việt Nam, triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn, tiêu biểu là công trình cầu Mỹ Thuận.
- Thương mại và đầu tư: Kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trưởng nhanh; các tập đoàn Australia mở rộng đầu tư vào các lĩnh vực viễn thông, khai khoáng và vật liệu xây dựng.
- Giáo dục và đào tạo: Trở thành lĩnh vực hợp tác trọng điểm thông qua các chương trình học bổng sau đại học của AusAID và việc chuẩn bị tiền đề thành lập cơ sở giáo dục đại học quốc tế (Đại học RMIT) tại Việt Nam.
- Đỉnh cao ngoại giao là việc Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, gia nhập ASEAN (tháng 7/1995) và chuyến thăm chính thức Australia của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1995, khẳng định tính ổn định vững chắc của quan hệ song phương ngay cả khi chính trường Australia có sự thay đổi đảng phái cầm quyền vào đầu năm 1996.
Chương 3 - Nhận xét chung về quan hệ Australia - Việt Nam giai đoạn 1973-1995
Chương 3 tổng kết các đặc điểm, bài học kinh nghiệm và triển vọng của mối quan hệ song phương:
Về đặc điểm và tính chất:
- Mối quan hệ giữa hai quốc gia có sự khác biệt sâu sắc về chế độ chính trị - xã hội, hệ tư tưởng và trình độ phát triển kinh tế, nhưng có điểm tương đồng là cùng thuộc không gian an ninh và phát triển của khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
- Quan hệ song phương chịu sự chi phối mạnh mẽ của cấu trúc địa - chính trị khu vực, chịu ảnh hưởng từ quan hệ của Australia với các nước lớn (Hoa Kỳ, Trung Quốc) và khối ASEAN.
- Tính chất quan hệ chuyển biến thực chất từ đối đầu tư tưởng thời Chiến tranh lạnh sang hợp tác thực dụng dựa trên lợi ích kinh tế, an ninh khu vực và thương mại đa phương.
Về các bài học kinh nghiệm:
- Bài học về việc kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa để từng bước tháo gỡ bao vây, cô lập ngoại giao.
- Khai thác hiệu quả những điểm tương đồng về lợi ích kinh tế và an ninh khu vực để thúc đẩy quan hệ song phương với các quốc gia có chế độ chính trị khác biệt.
- Vận dụng linh hoạt các kênh ngoại giao đa phương (ASEAN, APEC) và ngoại giao nhân dân, hợp tác khoa học - giáo dục để tạo nền tảng xã hội vững chắc cho quan hệ nhà nước.
Về triển vọng:
Sau năm 1995, khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, quan hệ Australia - Việt Nam được tích hợp vào khuôn khổ đối tác toàn diện hơn giữa Australia và toàn khối, mở ra không gian hợp tác ổn định, lâu dài trong các cơ chế khu vực như AFTA và APEC.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp mới sau đây:
Về mặt học thuật và lý luận:
- Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam nghiên cứu một cách chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống toàn bộ tiến trình lịch sử quan hệ ngoại giao giữa Australia và Việt Nam từ khi thiết lập (1973) đến giữa thập niên 1990.
- Luận án đã tập hợp, phân loại và hệ thống hóa một khối lượng tư liệu lưu trữ phong phú từ cả hai phía, bao gồm các văn kiện ngoại giao của Việt Nam và các tài liệu nghị trường, báo cáo thường niên của Bộ Ngoại giao và Quốc hội Australia.
- Đánh giá khách quan các bước thăng trầm của mối quan hệ dưới lăng kính sử học Mácxít, phân tích rõ động cơ lợi ích quốc gia của Australia (an ninh, kinh tế, vị thế quốc tế) trong từng giai đoạn cầm quyền của Công Đảng và Liên Đảng.
Về mặt thực tiễn và chính sách:
- Làm rõ vị trí của Việt Nam trong tổng thể chính sách đối ngoại hướng về châu Á - Thái Bình Dương của Australia, cũng như vị trí của Australia trong chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại của Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Rút ra những bài học kinh nghiệm về phương thức xử lý quan hệ với các quốc gia phương Tây có hệ thống chính trị - xã hội khác biệt, cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan hoạch định chính sách đối ngoại nhằm định hướng và phát triển quan hệ hợp tác song phương Việt Nam - Australia trong giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế:
Tác giả luận án chỉ ra khó khăn chính là việc tiếp cận các nguồn tư liệu lưu trữ từ phía Việt Nam còn hạn chế. Ngoài các hồ sơ đã khai thác tại Lưu trữ Bộ Ngoại giao, một số tài liệu lưu trữ phản ánh trực tiếp quá trình ra quyết định chính sách cụ thể của Đảng và Chính phủ Việt Nam đối với Australia trong thời kỳ này chưa đến thời hạn giải mật để phục vụ nghiên cứu rộng rãi. Do đó, dung lượng phân tích về chính sách phía Australia có phần chiếm ưu thế hơn so với tư liệu hoạch định nội bộ từ phía Việt Nam.
Về hướng nghiên cứu tiếp:
- Khảo sát sâu hơn các nguồn tài liệu lưu trữ của Việt Nam khi các hồ sơ ngoại giao tiếp tục được giải mật theo quy định.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang giai đoạn từ sau năm 1995 đến nay, khi quan hệ hai nước phát triển trong khuôn khổ quan hệ đối tác toàn diện và đối tác chiến lược gắn liền với tiến trình hội nhập sâu rộng của Việt Nam trong ASEAN, APEC và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị đối với nhiều đối tượng:
- Các nhà nghiên cứu, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Lịch sử thế giới, Lịch sử quan hệ quốc tế, Ngoại giao Việt Nam, Đông phương học và Úc học (Australian Studies).
- Cán bộ làm công tác tham mưu, hoạch định chính sách đối ngoại tại các cơ quan ngoại giao, các viện nghiên cứu chiến lược và quan hệ quốc tế.
- Các nhà nghiên cứu kinh tế quốc tế và giáo dục có thể sử dụng các số liệu lịch sử về ODA, kim ngạch thương mại, các dự án đầu tư và chương trình đào tạo nhân lực của Australia tại Việt Nam trong giai đoạn 1973–1995.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao Australia chuyển dịch trọng tâm tìm kiếm bảo trợ an ninh từ Anh sang Hoa Kỳ từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai?
Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, sự thất thủ nhanh chóng của các thuộc địa Anh trước quân đội Nhật Bản và việc giải phóng khu vực chủ yếu do quân đội Hoa Kỳ thực hiện đã cho thấy khả năng bảo đảm an ninh của Anh tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương bị hạn chế. Nhận thức này dẫn đến tuyên bố lịch sử của Thủ tướng John Curtin rằng Australia trông chờ vào sự bảo trợ của Hoa Kỳ. Quan hệ này được thể chế hóa thông qua Hiệp ước ANZUS năm 1951.
2. Khái niệm bước chuyển "tuyến phân thủy" (watershed) trong chính sách đối ngoại của chính phủ Gough Whitlam (1972–1975) có ý nghĩa gì đối với quan hệ với Việt Nam?
Chính phủ Công Đảng của Gough Whitlam đã tạo ra bước ngoặt khi thi hành đường lối ngoại giao độc lập hơn, giảm bớt sự phụ thuộc thụ động vào góc nhìn của Anh và Hoa Kỳ. Chính sách này dẫn đến việc Australia công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Dân chủ Đức, và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 26 tháng 2 năm 1973, mở đầu cho quan hệ chính thức giữa hai nước.
3. Vấn đề Campuchia và người tỵ nạn đã tác động như thế nào đến quan hệ hai nước giai đoạn 1979–1983?
Dưới thời chính phủ Liên Đảng của Malcolm Fraser, do chịu áp lực từ lập trường của Hoa Kỳ, các nước phương Tây và khối ASEAN liên quan đến vấn đề Campuchia và làn sóng người tỵ nạn Đông Dương, Australia đã đình chỉ các chương trình viện trợ ODA song phương trực tiếp cho Việt Nam, khiến quan hệ hai nước rơi vào tình trạng đóng băng và căng thẳng.
4. Chính phủ Bob Hawke và các Ngoại trưởng Bill Hayden, Gareth Evans đã có những đóng góp ngoại giao cụ thể nào trong giai đoạn 1983–1991?
Chính phủ Công Đảng của Bob Hawke đã áp dụng cách tiếp cận linh hoạt, cử Ngoại trưởng Bill Hayden thực hiện các chuyến ngoại giao con thoi tiếp xúc với các bên liên quan để tìm kiếm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia, đồng thời duy trì viện trợ nhân đạo cho Việt Nam qua các tổ chức phi chính phủ. Cuối năm 1990, Ngoại trưởng Gareth Evans đưa ra sáng kiến hòa bình đặt nền tảng cho việc ký kết Hiệp định Hòa bình Paris về Campuchia năm 1991, mở đường cho việc bình thường hóa toàn diện quan hệ song phương.
5. Ý nghĩa của mốc thời gian năm 1995 đối với quan hệ Australia - Việt Nam là gì?
Năm 1995 đánh dấu bước chuyển mang tính ổn định và bền vững của quan hệ hai nước khi Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN. Quan hệ với Việt Nam được tích hợp vào chính sách tổng thể của Australia đối với ASEAN. Chuyến thăm Australia của Tổng Bí thư Đỗ Mười năm 1995 và việc duy trì quan hệ tốt đẹp sau khi Liên Đảng trở lại nắm quyền vào đầu năm 1996 đã khẳng định tính chất ổn định, vượt qua sự khác biệt về thể chế chính trị và thay đổi nội các.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trịnh Thị Định là công trình nghiên cứu lịch sử đầu tiên ở Việt Nam phân tích có hệ thống và toàn diện tiến trình quan hệ song phương Australia - Việt Nam trong giai đoạn bản lề 1973–1995. Luận án đã làm rõ sự vận động của quan hệ ngoại giao từ đối đầu tư tưởng thời Chiến tranh lạnh sang hợp tác thực dụng, đa lĩnh vực dựa trên các nhóm lợi ích quốc gia căn bản về an ninh, kinh tế và vị thế quốc tế. Bằng việc kết hợp chặt chẽ các nguồn tư liệu giải mật, tài liệu nghị trường và phỏng vấn nhân chứng lịch sử, công trình không chỉ có giá trị học thuật đối với ngành Lịch sử quan hệ quốc tế mà còn cung cấp cơ sở thực tiễn quan trọng phục vụ cho việc hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Australia và khu vực châu Á - Thái Bình Dương.