Chương 1 CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CON NGƯỜI 1.1 QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VỀ CON NGƯỜI Nhận thức về con người một cách đầy đủ và hoàn thiện là sự kế thừa quá trình tiến triển lâu dài của triết học phương Tây lẫn phương Đông. Bằng những tiền đề đã có trong lịch sử, trên cơ sở tiếp thu một cách chọn lọc, kế thừa và phát triển những tư tưởng hợp lý của các nhà triết học trong lịch sử nhân loại, từ triết học Ấn Độ, Trung Quốc, Hy lạp- La Mã cổ đại, đến các nhà triết học cổ điển Đức. Chủ nghĩa Mác- Lênin đã xây dựng nên một học thuyết về con người đầy đủ và khoa học, được thể hiện ở những nội dung sau: 1.1 Nguồn gốc, bản chất và vai trò của của con người Nguồn gốc của con người Các nhà triết học – thần học coi con người và xã hội chẳng qua chỉ là những hình thái biểu hiện cụ thể khác nhau của một đấng siêu nhiên. Những nhà duy tâm khách quan tiêu biểu như Platon, sau là Hêghen tuy không mượn tới thần linh, nhưng lại nhờ tới “ý niệm” hoặc “ý niệm tuyệt đối”, để lý giải nguồn gốc và bản chất của con người.
Tiếp thu có chọn lọc những thành tựu của triết học trước đó, trực tiếp là triết học cổ điển Đức, C.Mác đã nhận ra những sai lầm của Hêghen và Phoiơbắc khi xây dựng quan điểm của mình về bản chất con người. Các ông đã phê phán một cách có luận cứ khoa học trên tinh thần cách mạng đối với quan niệm duy tâm tư biện của Hêghen, khi coi con người là hiện thân của “ý niệm tuyệt đối”. Đối với quan điểm duy vật nhân bản của Phoiơbắc về con người và giải phóng con người, C.Mác cũng nhận rõ tính chất siêu hình trong quan điểm của Phoiơbắc, khi đồng nhất tính sinh học vào bản chất con người, tách con người ra khỏi đời sống xã hội, hòa 11 tan bản chất con người vào bản chất tôn giáo; do đó, không thấy được hoạt động đích thực của con người là hoạt động thực tiễn, mà chỉ coi “hoạt động lý luận là hoạt động đích thực của con người. Triết học Mác-Lênin vén tấm màn bí ẩn về con người và đi đến kết luận về đặc trưng tồn tại của con người, đó là một thực thể thống nhất giữa các mặt sinh học- xã hội- tinh thần.
Thành tựu của di truyền học đã xác định luận điểm nổi tiếng của chủ nghĩa C.Mác về sự thống nhất của thế giới vật chất, là cơ sở vững chắc cho chủ nghĩa duy vật bác bỏ những quan điểm thần bí và tôn giáo về con người. Với quan điểm duy vật về lịch sử giúp C.Ăngghen nhận ra, con người là kết quả của sự tiến hóa lâu dài trong nhiều triệu năm của vật chất, là “một cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sản sinh ra được.” [11,475] Nếu đứng về mặt sinh học “con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [22,35], phát sinh trực tiếp từ động vật, thống nhất chặt chẽ với tổ tiên động vật về cơ sở phân tử của tính di truyền và cơ sở tổ chức tế bào. Khoa học và thực tiễn đã chứng minh rằng, tiền đề đầu tiên của sự tồn tại người là sự sống và thể xác. Thể xác của con người trước hết là vật thể của giới tự nhiên như Ph.Ănghen đã nhận xét trong tác phẩm Biện chứng của tự nhiên: “bản thân chúng ta với cả xương thịt, máu mủ và đầu óc chúng ta là thuộc về giới tự nhiên” [72,268-269].
Chính vì vậy, với phần thể xác tự nhiên ấy, con người cũng có những thuộc tính không khác các động vật về những nhu cầu tự nhiên (ăn, uống, ngủ, nghĩ, duy trì nòi giống, tự vệ….) mà nếu thiếu những thuộc tính này con người không thể tồn tại được. Không phủ nhận con người là một thực thể sinh học, bởi con người cũng có những yếu tố hữu sinh, hữu cơ, những cái về bề mặt phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật, những yếu tố làm cho con người hình thành và hoạt động như một cá thể. Trong Bản thảo kinh tế- triết học năm 1844, C.Mác đã lập luận rất thuyết phục rằng giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người, con người sống bằng giới tự nhiên, đời sống thể 12 xác và tinh thần của con người gắn với giới tự nhiên. Giới tự nhiên bao giờ cũng tồn tại hiện thực với con người và là đối tượng cho hoạt động của con người; song trong mọi hoạt động của mình, con người luôn xuất phát từ những nhu cầu của bản thân mình.
Điều này đặc trưng cho sự vận động lịch sử của đời sống sinh hoạt hiện thực của con người cũng như cho việc nhận thức sự vận động đó. Khẳng định điều này, C.Mác nhấn mạnh: “Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại. Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên” [22,135] Như vậy, với C.Mác, con người tồn tại bao giờ cũng gắn liền với điều kiện tự nhiên nhất định; hơn thế nữa, con người là một bộ phận không thể tách rời giới tự nhiên. Con người giống như các loài động vật khác, con người cũng phải tìm kiếm mọi điều kiện cần thiết cho sự tồn tại trong đời sống tự nhiên, như tìm kiếm thức ăn cũng như đấu tranh với tự nhiên, với thú dữ cho sự sinh tồn của mình.
Trải qua hàng triệu năm con người dần dần phát triển mình lên tầm cao mới, tách mình ra khỏi thế giới của những loài động vật bình thường, con người đã thay đổi mình từ loài vượn thành người. Điều này chứng minh cho các giai đoạn sinh học mà con người đã trải qua từ khi hình thành, phát triển đã quy định bản tính sinh học trong con người. Với cấu tạo sinh học riêng, con người là động vật đặc biệt, là động vật cao cấp nhất, tinh hoa nhất của muôn loài, con người là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của thế giới tự nhiên. Sự xuất hiện của con người là một bước ngoặt vĩ đại, một khâu kỳ diệu trong sự tiến hóa của sự sống trên trái đất.
Con người là động vật ở bậc thang cao nhất, đồng thời là động vật sinh động nhất, bỏ xa các động vật xuất hiện trước con người trong quá trình tiến hoá, nhưng như thế không có nghĩa 13 là con người đã lột bỏ tất cả những cái tự nhiên để không còn một sự liên hệ nào với tổ tiên của mình, con người có thể chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên. Con người là một sinh vật có tính loài, là một bộ phận của giới tự nhiên, có hoạt động sinh sống có ý thức, cho nên về bản chất hoạt động của con người là hoạt động tự do, có khả năng tri thức. Tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội đã tạo nên con người. Mặt tự nhiên không phải là yếu tố duy nhất quy định nên bản chất con người, yếu tố xã hội đã quy đinh nên sự khác biệt và vượt bậc của con người với động vật khác.
Tuy nhiên, để nhìn thấy vấn đề con người ở góc độ toàn diện, cụ thể trong toàn bộ tính hiện thực của nó, triết học C.Mác đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, nhận thấy con người có được sự vượt bậc so với các loài động vật khác chỉ có thể tồn tại được khi tiến hành lao động sản xuất của cải vật chất để thoả mãn nhu cầu mình. Lao động là nguồn gốc cho con người và xã hội tồn tại; theo logic thì lao động là nguồn gốc của văn hoá vật chất và tinh thần. Trong lao động, con người quan hệ với nhau trong lĩnh vực sản xuất, đó là những quan hệ nền tảng hình thành các quan hệ xã hội khác trong các lĩnh vực đời sống và tinh thần. Lao động của con người chính là điều kiện cơ bản, đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người, là cái sáng tạo ra bản thân con người.
Các nhà kinh tế chính trị khẳng định rằng: lao động là nguồn gốc của mọi của cải, vì khi đi đôi với giới tự nhiên, là cái cung cấp những vật liệu cho lao động biến thành của cải. Lao động là một điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại của con người, là môi giới cho sự trao đổi chất giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người. Trong cơ thể con người không chỉ có những nhu cầu tự nhiên và các quy luật sinh học, mà còn những nhu cầu xã hội và các quy luật sinh-tâm lý, tình cảm xã hội…Hơn nữa, ngay trong những nhu cầu tự nhiên của con người không còn thuần túy tự nhiên, nó đã mang chút gì đó màu 14 sắc của tính xã hội hóa sâu sắc. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thừa nhận ý nghĩa hiển nhiên của các yếu tố sinh học đối với con người, nhưng không bao giờ họ coi đó là tính quyết định.
Bởi từ khi thoát khỏi loài vượn thì con người không còn là động vật thuần túy như bao loài động vật khác mà trở thành một thực thể xã hội- sinh học. Bằng hoạt động sản xuất ra thế giới vật chất đồng thời có khả năng cải tạo thế giới tự nhiên, cải tạo xã hội, con người tỏ ra là một sinh vật có tính loài có ý thức, có tính nhân văn, tính đồng loại nghĩa là coi những người cùng loài với mình như chính bản thân mình. Đó là những đặc tính chỉ có con người mới có, xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người. Thừa nhận con người là một “động vật xã hội”, chủ nghĩa Mác - Lênin đương nhiên thừa nhận sự phát triển mọi mặt của con người là tuân theo hai loại quy luật là quy luật sinh học và quy luật xã hội.
Ở con người, đặc biệt là con người hiện đại, vai trò của hai loại quy luật này là không giống nhau, nhất là về cường độ và thời gian tác động. Quy luật sinh học tác động quyết định ở giai đoạn đầu trong sự phát sinh và phát triển của con người, từ khi là hợp tử đến khi lọt lòng.