Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình hình thành và phát triển thành phố Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đỗ Thị Hương Liên, chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9229013), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Ngọc Cơ và PGS. Hà Thị Thu Thủy tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên (bảo vệ năm 2019). Công trình tiếp cận lịch sử đô thị theo hướng nghiên cứu định tính, kết hợp khai thác tư liệu văn bản, hồ sơ lưu trữ và khảo sát thực địa.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lạng Sơn là tỉnh miền núi biên giới Đông Bắc, giữ vị trí cửa ngõ giao thương giữa Việt Nam và Trung Quốc, nối liền các tuyến thông thương quốc tế với tam giác kinh tế trọng điểm Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Thành phố Lạng Sơn từng trải qua các giai đoạn lịch sử với vị thế Châu lỵ, Trấn lỵ (Đoàn thành), thị xã tỉnh lỵ từ năm 1925, đô thị loại III vào năm 2000 và chính thức thành lập thành phố vào tháng 10 năm 2002. Đô thị này phát triển theo phương thức đặc thù "thị có trước, đô có sau", gắn liền với trung tâm buôn bán lâu đời tại phố chợ Kỳ Lừa.

Mặc dù quá trình đô thị hóa tại Việt Nam đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu, phần lớn các ấn phẩm học thuật trước đây chỉ tập trung vào các đô thị lớn ở vùng đồng bằng như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Nam Định, Thanh Hóa... Các nghiên cứu hiện có về Lạng Sơn chủ yếu tiếp cận dưới góc độ địa lý học kinh tế, phản ánh từng lĩnh vực riêng lẻ hoặc dừng lại ở các bài viết tổng quan văn hóa, phong trào đấu tranh cách mạng địa phương. Cho đến thời điểm đề tài được triển khai, chưa có một công trình chuyên khảo sử học nào phục dựng toàn diện, có hệ thống quá trình hình thành, phát triển và biến đổi không gian đô thị của tỉnh lỵ Lạng Sơn trong suốt gần một thế kỷ (1925 - 2012).

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 4 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Trình bày một cách có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012.
  2. Nêu đặc điểm của quá trình đô thị hóa nói chung và ở thành phố Lạng Sơn nói riêng.
  3. Tác động tích cực và tiêu cực của quá trình đô thị hóa đến sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012.
  4. Trên cơ sở nghiên cứu, chỉ ra đặc trưng của đô thị Lạng Sơn.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, luận án tập trung giải quyết ba nhóm nhiệm vụ:

  • Phân tích những điều kiện lịch sử tác động đến sự phát triển của thị xã Lạng Sơn và thành phố Lạng Sơn qua các giai đoạn lịch sử cụ thể.
  • Làm rõ sự thay đổi về diên cách (quy mô không gian), quy hoạch kiến trúc, cảnh quan và cơ chế, chính sách quản lý đô thị của bộ máy chính quyền qua các thời kỳ.
  • Phác họa bức tranh sinh hoạt đô thị thể hiện qua các mặt: dân cư, kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội của đô thị Lạng Sơn qua gần một thế kỷ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Thành phố Lạng Sơn, với trọng tâm là quá trình đô thị hóa diễn ra tại địa bàn này.
  • Phạm vi không gian: Không gian lịch sử - kinh tế - văn hóa - xã hội Lạng Sơn với trung tâm là thành phố Lạng Sơn (trong từng giai đoạn có các tên gọi hành chính tương ứng như thị xã Lạng Sơn, thành phố Lạng Sơn). Khi phân tích các tác động qua lại, phạm vi khảo sát được mở rộng ra địa bàn toàn tỉnh Lạng Sơn.
  • Phạm vi thời gian: Từ năm 1925 đến năm 2012. Mốc mở đầu (1925) đánh dấu thời điểm chính quyền thuộc địa Pháp ban hành Nghị định số 30431 thiết lập thị xã Lạng Sơn. Mốc kết thúc (2012) đánh dấu chặng đường 10 năm sau khi thị xã được Chính phủ nâng cấp thành thành phố trực thuộc tỉnh (2002 - 2012), phù hợp với điều kiện khai thác tư liệu lưu trữ của tác giả.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tiến hành điểm luận hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hai mảng nội dung chính: đô thị học/đô thị hóa tại Việt Nam và các công trình chuyên khảo về Lạng Sơn.

Các hướng nghiên cứu về đô thị và đô thị hóa ở Việt Nam

  • Nghiên cứu sử học và đô thị cổ: Tiêu biểu là công trình "Đô thị cổ Việt Nam" (Viện Sử học, 1989), khảo cứu các trung tâm đô thị từ thế kỷ III đến thế kỷ XIX như Hà Nội, Hoa Lư, Phố Hiến, Hội An. Nguyễn Thừa Hỷ (1983) bảo vệ luận án tiến sĩ về "Thăng Long - Hà Nội thế kỉ XVII-XVIII-XIX", so sánh cấu trúc đô thị trung đại Việt Nam với Tây Âu. Đăng Trường (2013) nghiên cứu "Đô thị thương cảng Phố Hiến". Nguyễn Văn Kim (2016) công bố công trình "Vân Đồn, thương cảng quốc tế của Việt Nam".
  • Nghiên cứu quy hoạch, chính sách và văn hóa đô thị: Đàm Trung Phường (1995) với cuốn "Đô thị Việt Nam" đánh giá mạng lưới và chiến lược phát triển đô thị. Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á (1995) công bố "Đô thị hóa tại Việt Nam và Đông Nam Á". Trần Ngọc Hiên và Trần Văn Chử (1998) nghiên cứu "Đô thị hóa và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam". Tôn Nữ Quỳnh Trân và Nguyễn Thế Nghĩa (2002) chủ biên cuốn "Phát triển Đô thị bền vững". Võ Kim Cương (2004) xem xét "Quản lí đô thị thời kì chuyển đổi". Đình Quang (2005) xuất bản "Đời sống văn hóa đô thị và khu công nghiệp Việt Nam". Nguyễn Thanh Tuấn (2006) khảo sát "Biến đổi văn hóa đô thị Việt Nam hiện nay". Trương Quang Thao (2011) làm rõ các khái niệm công cụ trong "Đô thị học, những khái niệm mở đầu". Trần Hữu Quang (2012) nghiên cứu "Hạ tầng đô thị Sài Gòn buổi đầu". Nguyễn Sĩ Quế (2012) xuất bản "Lịch sử đô thị". Phan Xuân Biên (2015) chủ biên "Xây dựng văn hóa đô thị trong quá trình đô thị hóa ở thành phố Hồ Chí Minh".
  • Các luận văn, luận án về đô thị địa phương: Nguyễn Quang Hồng (2000) nghiên cứu sự phát triển của thành phố Vinh từ 1908 đến 1945; Phạm Thị Tuyết (2011) nghiên cứu "Đô thị Hải Dương thời kì thuộc địa (1886-1945)"; Trần Thị Thái Hà (2012) bảo vệ đề tài "Từ hành cung Tức Mặc - Thiên Trường đến đô thị Vị Hoàng (thế kỉ XIII-XIX)"; Nguyễn Thị Thu Hà (2014) khảo sát "Thành phố Thanh Hóa, quá trình hình thành và phát triển từ năm 1804 đến nay (2010)"; Nguyễn Thị Hoài Phương (2015) nghiên cứu "Thành phố Hải Phòng từ 1888 đến 1945"; Dương Ngọc Hải (2014) khảo sát đô thị hóa tại thành phố Thủ Dầu Một (1997 - 2012).
  • Nghiên cứu của học giả quốc tế: André Masson (1929, bản dịch 2003) với cuốn "Hà Nội giai đoạn 1873-1888"; công trình tập thể "Hà Nội - chu kì của những đổi thay" (2003); các bài nghiên cứu về biến đổi ven đô và tính chất phi chính thức của Timothy M. Gorman (2008), Mike Douglass (2008), Lisa Drummond (2008); kỷ yếu hội thảo quốc tế "Đô thị châu Á và châu Âu: Nghiên cứu so sánh" (2016) do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội phối hợp với Đại học Sư phạm Hoa Đông tổ chức (với các bài viết của Wang Lei, Detlef Briesen, Đỗ Thị Thanh Loan).

Các nghiên cứu về tỉnh Lạng Sơn và thành phố Lạng Sơn

  • Thư tịch cổ và tư liệu thời thuộc địa: Tác phẩm "Lạng Sơn Đoàn thành đồ" do Nguyễn Nghiễm biên soạn năm Cảnh Hưng thứ 19 (1758) là tài liệu cổ nhất ghi chép chi tiết về Đoàn thành và các phố chợ Kỳ Lừa, Đồng Đăng. Phía chính quyền thực dân Pháp có các ấn phẩm và báo cáo hành chính: "Manuel du Voyageur en Indochine du Nord" của Madrolle; "Le commerce du Tonkin avec la province chinoise du Quang-Si" (Phan Tâm dịch); "Territoire Militaire" của Louis de Grandmaison (1898); "Tài liệu nhật kí các tin tức tình báo" (1910); "Histoire militaire de l'Indochine" (1922); "Notice monographique de la province de Lang Son destinée à l'Exposition coloniale internationale de Paris en 1931" (1930); báo cáo của Công sứ Heilen "Notice sur la province de Lang Son" (1932).
  • Công trình sau năm 1945 và giai đoạn Đổi mới: "Sơ thảo địa lí tỉnh Lạng Sơn" (Ty Giáo dục Lạng Sơn, 1955); "Tuyển tập Luận văn hội nghị khoa học xứ Lạng - Lạng Sơn" (Sở Văn hóa Thông tin Lạng Sơn, 1988); Vũ Ngọc Khánh chủ biên cuốn "Thị xã Lạng Sơn xưa và nay" (1990); Chương trình điều tra cấp nhà nước về các tỉnh miền núi phía Bắc (1990); các bộ lịch sử địa phương và lịch sử ban ngành như "Lịch sử phong trào phụ nữ Lạng Sơn (1930-1954)" (1991), "Lịch sử phong trào công nhân và công đoàn Lạng Sơn" (1992), "Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn (1930-1945)" (1998), "Địa chí Lạng Sơn" (1999), "Lịch sử Đảng bộ thị xã Lạng Sơn (1930-1954)" (2001). Về chuyên khảo kinh tế - xã hội có Luận án Tiến sĩ Địa lý của Hoàng Phúc Lâm (2002) về tác động biến đổi kinh tế - xã hội đến thị xã Lạng Sơn; các luận văn của Nông Đức Vinh (2004), Dương Thị Hồng Vân (2006), Nông Văn Dũng (2012); nghiên cứu văn hóa - lễ hội của Vương Đắc Huy (2012), Mã Thế Vinh (2012).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Mặc dù số lượng ấn phẩm về Lạng Sơn tương đối phong phú, phần lớn các công trình chỉ khảo sát địa lý tự nhiên, di tích văn hóa - lễ hội, lịch sử quân sự, hoặc tập trung phân tích thương mại biên mậu thuần túy. Chưa có công trình nào tái hiện tiến trình đô thị hóa của thị xã/thành phố Lạng Sơn dưới góc độ sử học một cách có hệ thống, xuyên suốt từ khi thành lập thị xã thuộc địa (1925) qua các giai đoạn kháng chiến, tái thiết, đến giai đoạn Đổi mới và 10 năm đầu nâng cấp lên thành phố (2002 - 2012). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc bổ sung nguồn tài liệu lưu trữ gốc của Pháp và tài liệu hành chính nhà nước sau năm 1945 để phân tích toàn diện diện mạo không gian, bộ máy quản lý và cấu trúc kinh tế - xã hội của đô thị Lạng Sơn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm

Luận án vận dụng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp hệ thống khái niệm của đô thị học hiện đại: đô thị, đô thị hóa, quản lý đô thị, quy hoạch kiến trúc, sinh hoạt đô thị. Đô thị Lạng Sơn được xem xét dưới mô hình phát triển đô thị thương mại cửa khẩu miền núi, phản ánh sự tích hợp giữa trung tâm hành chính - quân sự ("đô") và không gian giao thương, phân phối hàng hóa biên giới ("thị").

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp lịch sử: Phương pháp chủ đạo dùng để phục dựng tiến trình ra đời, biến đổi của thị xã và thành phố Lạng Sơn theo trình tự thời gian qua 4 thời kỳ cơ bản (1925 - 1954, 1954 - 1975, 1975 - 2002, 2002 - 2012), đặt trong mối liên hệ mật thiết với bối cảnh chính trị, quân sự của cả nước và vùng Đông Bắc.
  • Phương pháp logic: Được sử dụng đan xen nhằm phân tích bản chất, quy luật vận động, mối liên hệ giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, từ đó khái quát những đặc trưng riêng của đô thị Lạng Sơn so với các đô thị đồng bằng.
  • Phương pháp liên ngành và đa ngành: Kết hợp nghiên cứu sử học với các kỹ thuật xã hội học (phân tích bảng hỏi, thống kê cơ cấu dân cư, lao động việc làm) và địa lý nhân văn.
  • Phương pháp khu vực học: Đặt thành phố Lạng Sơn trong không gian đối sánh và gắn kết chặt chẽ với các huyện phụ cận trong tỉnh, hành lang kinh tế biên giới Việt - Trung và vùng Đông Bắc.
  • Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Tác giả trực tiếp khảo sát thực địa mạng lưới chợ lớn (chợ Kỳ Lừa, chợ Đông Kinh, chợ Giếng Vuông, chợ Chi Lăng, chợ Tân Thanh, chợ Đêm), hệ thống sông Thương, sông Kỳ Cùng và các phường trung tâm (Đông Kinh, Vĩnh Trại, Tam Thanh, Chi Lăng, Hoàng Văn Thụ) nhằm đối chiếu giữa tài liệu thành văn và hiện trạng thực tế.

Nguồn tư liệu sử dụng

  • Tư liệu lưu trữ:
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I: Khai thác các phông Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (Fonds de la Résidence Supérieure au Tonkin), Phủ Toàn quyền Đông Dương, Nha Kinh lược Bắc Kỳ; tiêu biểu là các hồ sơ thuộc dãy tài liệu ký hiệu E (tổ chức chính quyền địa phương) và E2 (thay đổi địa giới hành chính, như hồ sơ số 33306 "Modifications dans les circonscriptions administratives de la province de Lang Son", hồ sơ số 4049).
    • Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III: Phông Văn phòng Chính phủ (hồ sơ 708/17589 về đổi tên xã huyện; hồ sơ 9420 về lũ lụt năm 1986); Phông Bộ Kế hoạch và Đầu tư (hồ sơ số 2054 về phê duyệt thiết kế quy hoạch chung thị xã Lạng Sơn giai đoạn 1986 - 2000).
    • Lưu trữ địa phương: Tài liệu tại Chi cục Văn thư Lưu trữ tỉnh Lạng Sơn và Phòng Lưu trữ Thành ủy Lạng Sơn.
  • Tư liệu văn kiện và thống kê: Các nghị quyết, báo cáo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Lạng Sơn, Ủy ban hành chính thị xã Lạng Sơn; niên giám thống kê và số liệu báo cáo của ngành Thống kê địa phương.
  • Tư liệu báo chí: Báo Bắc Kạn (Ty Thông tin Bắc Kạn số 83 năm 1950), Báo Hà Giang, Bản tin Quận chính thành phố Hà Nội (số ra ngày 22/10/1954), Báo Cứu quốc, Báo Liên khu I, Báo Việt Minh độc lập, Báo Lạng Sơn và các tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Đông Nam Á, Tạp chí Cộng sản).
  • Tư liệu tranh ảnh, bản đồ, hiện vật: Thu thập tại Bảo tàng tỉnh Lạng Sơn và Thư viện tỉnh Lạng Sơn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về nguồn tư liệu và tình hình nghiên cứu đề tài

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ nguồn tư liệu thành văn, tư liệu lưu trữ trong nước (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I và III) và địa phương, tư liệu báo chí, tranh ảnh, bản đồ và kết quả khảo sát điền dã. Tiếp đó, tác giả tổng thuật lịch sử nghiên cứu vấn đề theo hai mảng lớn: các nghiên cứu về đô thị học/đô thị hóa tại Việt Nam và các công trình nghiên cứu riêng về tỉnh và thành phố Lạng Sơn (gồm thư tịch cổ, công trình thời Pháp thuộc, các nghiên cứu sau năm 1945 và thời kỳ Đổi mới). Tác giả xác định những kết quả khoa học cần kế thừa, đồng thời chỉ ra khoảng trống về mặt sử học đối với quá trình phát triển đô thị Lạng Sơn trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI mà luận án tập trung giải quyết.

Chương 2: Thị xã Lạng Sơn từ khi thành lập đến ngày hòa bình lập lại (1925 - 1954)

Nội dung chương trình bày nguồn gốc lịch sử vùng đất Lạng Sơn từ thời tiền sử (di chỉ Thẩm Khuyên, Thẩm Hai, văn hóa Bắc Sơn, văn hóa Mai Pha) qua các thời kỳ châu lỵ, trấn lỵ với trung tâm Đoàn thành được xây dựng từ thế kỷ XVIII.

Năm 1925, chính quyền thực dân Pháp ban hành Nghị định số 30431 thiết lập thị xã Lạng Sơn. Dòng sông Kỳ Cùng đóng vai trò ranh giới tự nhiên chia đô thị thành hai khu vực có công năng và cấu trúc hoàn toàn khác biệt:

  • Khu bên Tỉnh (phía Nam sông, khu Chi Lăng): Là trung tâm hành chính, quân sự của thực dân Pháp. Tại đây bố trí Tòa Công sứ, Tòa Phó sứ, Dinh tư lệnh Đạo quan binh thứ nhất, Hội đồng hàng tỉnh (thành lập theo Nghị định ngày 19/3/1913; thành phần nhiệm kỳ 1939 - 1942 gồm đại diện tư sản Pháp như Drouet, Retif Auguste và 10 ủy viên người Việt), Trại lính Lê Dương, Sở Cẩm, Sở Mật thám, Kho bạc, Nhà đoan, Nhà ga và Nhà tù Lạng Sơn. Các cơ quan bù nhìn bản xứ (Dinh Tổng đốc, Dinh Bố chánh) cũng đặt tại khu vực này. Kiến trúc mang phong cách biệt thự Pháp, gam màu trắng cổ điển; đường phố rộng từ 10m trở lên, có vỉa hè và cây xanh.
  • Khu bên Kỳ Lừa (phía Bắc sông): Là trung tâm kinh tế, buôn bán của người Việt và Hoa kiều. Phố xá tổ chức quanh chợ Kỳ Lừa với các dãy phố Cai (Chính Cai, Tây Cai, Đông Cai, Bắc Cai, Nam Cai, Pò Xoài, Pò Càng; sau mở thêm phố Muối, Tân Tây Cai). Kiến trúc nhà ở gồm nhà đất trình hai tầng ở đầu phố và nhà gạch mộc một tầng lợp ngói âm dương xây theo chiều sâu; mạng lưới đường phố chật hẹp (có đoạn chỉ rộng 3m), 70% không lát vỉa hè.

Quy hoạch giao thông thời kỳ này ghi nhận tổng chiều dài đường phố là 28 km, diện tích đường và quảng trường đạt 160.000 m² trên tổng diện tích đất dân dụng công nghiệp 140.000 m² (tỷ lệ 11,5%). Tuyến đường sắt kết nối tới Na Sầm hoàn thành vào năm 1938.

Về quản lý môi trường, Công sứ Lạng Sơn ban hành Nghị định ngày 4/3/1942 với các điều khoản khắt khe về an toàn thực phẩm, xử lý xác súc vật, lưu trữ rác và quy định mai táng dưới sự giám sát trực tiếp của "Ông Cẩm" (chủ sự cảnh sát đô thị) và các trưởng phố. Việc vận chuyển phân, rác được quy định thực hiện từ 1 giờ chiều đến 5 giờ 30 sáng bằng thùng kín (tinet).

Giai đoạn 1945 - 1954 chứng kiến sự biến động lớn do chiến tranh. Sau Cách mạng tháng Tám, Ủy ban hành chính thị xã Lạng Sơn được thành lập chính thức từ tháng 11/1946 theo Sắc lệnh số 63/SL (gồm 3 ủy viên chính thức và 2 ủy viên dự khuyết). Sau khi thị xã được giải phóng vào tháng 10/1950, chính quyền cách mạng tiến hành tiếp quản (họp mở rộng ngày 18/10/1950, bầu Ủy ban kháng chiến hành chính khu phố ngày 22/10/1950), củng cố bộ máy dân chủ nhân dân (1953 - 1954), chỉnh trang đô thị, khôi phục cầu Kỳ Lừa, rạp chiếu bóng và quy hoạch lại các khu trường học, chợ búa phục vụ đời sống dân sinh và chi viện cho kháng chiến.

Chương 3: Chuyển biến của thị xã Lạng Sơn trong những năm 1954 - 1975

Sau năm 1954, thị xã Lạng Sơn bước vào thời kỳ khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và chi viện cho chiến trường miền Nam, đồng thời đối phó với chiến tranh phá hoại của không quân Mỹ.

  • Quy hoạch và kiến thiết: Chính quyền thị xã tiến hành cải tạo hạ tầng cơ sở, phục hồi tuyến đường sắt liên vận quốc tế kết nối qua ga Kỳ Lừa đến khu Đông Kinh, xây dựng các công trình công cộng tại khu Phai Vệ và khu Giao Tế. Các xưởng công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp phục vụ ngành đường sắt được bố trí về khu Chi Lăng.
  • Quản lý đô thị và kinh tế - xã hội: Thực hiện công tác cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, xây dựng hệ thống hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và mạng lưới mậu dịch quốc doanh. Về giáo dục, quy mô mạng lưới trường lớp tăng nhanh (luận án phản ánh qua bảng số liệu tổng số học sinh các cấp tính đến năm 1955). Sinh hoạt đô thị vận hành theo cơ chế phân phối, bao cấp, gắn liền với nhiệm vụ vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vùng biên cương.

Chương 4: Chuyển biến của thị xã Lạng Sơn sau ngày đất nước thống nhất và sự thành lập thành phố (1975 - 2002)

Giai đoạn này ghi nhận những bước ngoặt lịch sử lớn đối với đô thị Lạng Sơn:

  • Tác động lịch sử: Chiến tranh biên giới năm 1979 đã phá hủy nghiêm trọng toàn bộ cơ sở hạ tầng, nhà cửa, cầu cống của thị xã. Sau năm 1979, thị xã tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh. Bước sang thời kỳ Đổi mới (1986) và đặc biệt là sự kiện bình thường hóa quan hệ Việt - Trung (1991), thị xã Lạng Sơn chuyển mình nhanh chóng nhờ sự phục hồi của hoạt động thương mại cửa khẩu.
  • Quy hoạch và diên cách: Năm 1986, UBND tỉnh phê duyệt đồ án thiết kế quy hoạch chung xây dựng thị xã Lạng Sơn giai đoạn 1986 - 2000 (hồ sơ 2054). Không gian đô thị được mở rộng, các công trình hạ tầng kỹ thuật, đường giao thông, mạng lưới chợ được tái thiết và xây mới khang trang. Năm 2000, thị xã được công nhận là đô thị loại III. Đến tháng 10 năm 2002, Chính phủ ban hành Nghị định chính thức thành lập thành phố Lạng Sơn.
  • Chuyển biến kinh tế - xã hội và lao động: Hoạt động kinh tế chuyển đổi mạnh từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Luận án tổng hợp các biến động cơ cấu dân số qua các giai đoạn (bảng số liệu dân số từ năm 1989 đến năm 1999; tỷ lệ tăng dân số giữa nội thị và nông thôn; tình hình lao động, việc làm các phường; phân tích độ tuổi và trình độ chuyên môn của lực lượng lao động năm 1999). Ngành thương mại - dịch vụ - du lịch trở thành động lực phát triển then chốt của đô thị.

Chương 5: Thành phố Lạng Sơn trong 10 năm xây dựng và phát triển (2002 - 2012)

Chương 5 phân tích diện mạo thành phố Lạng Sơn trong thập niên đầu tiên sau khi được thành lập:

  • Các yếu tố tác động: Yếu tố nội sinh (chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nguồn lực đầu tư của tỉnh và thành phố) kết hợp với các yếu tố ngoại sinh (sự hình thành và phát triển của các Khu kinh tế cửa khẩu như Tân Thanh, Hữu Nghị; tuyến hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh).
  • Đổi mới quy hoạch và quản lý đô thị: Thành phố thực hiện điều chỉnh quy hoạch tổng thể, mở rộng không gian kiến trúc theo hướng hiện đại, xây dựng các khu đô thị mới, nâng cấp hệ thống cấp thoát nước và mạng lưới cây xanh. Bộ máy hành chính được kiện toàn theo mô hình chính quyền đô thị; nâng cao hiệu lực quản lý trật tự xây dựng, đất đai và bảo vệ môi trường sinh thái.
  • Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GDP bình quân đầu người của thành phố duy trì ở mức cao so với mức bình quân chung của toàn tỉnh (được chứng minh qua bảng thống kê giai đoạn 2002 - 2012). Khu vực thương mại, dịch vụ, hệ thống khách sạn - nhà hàng phát triển mạnh mẽ (phản ánh qua bảng chỉ tiêu cơ sở và lao động ngành thương mại, dịch vụ - du lịch).
  • Văn hóa - xã hội: Bảo tồn các di tích lịch sử (thành nhà Mạc, Đoàn thành, đền Kỳ Cùng) gắn với phát triển du lịch văn hóa tâm linh; hệ thống giáo dục, y tế được chuẩn hóa, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân đô thị được nâng cao rõ rệt.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Xác lập mô hình đô thị miền núi biên giới: Luận án làm rõ đặc trưng hình thành và phát triển của đô thị Lạng Sơn theo quy luật "thị có trước, đô có sau". Khác với các đô thị đồng bằng lấy sản xuất công nghiệp hoặc trung tâm hành chính làm nòng cốt, đô thị Lạng Sơn phát triển chủ yếu dựa trên chức năng thương mại biên mậu và vị trí tiền đồn quốc phòng.
  • Phân kỳ lịch sử phát triển đô thị: Phân định và luận giải khoa học 4 giai đoạn phát triển của đô thị Lạng Sơn gắn liền với các bước ngoặt của lịch sử dân tộc: 1925 - 1954 (thời kỳ thuộc địa và kháng chiến chống Pháp); 1954 - 1975 (khôi phục kinh tế, xây dựng CNXH và chống chiến tranh phá hoại); 1975 - 2002 (hàn gắn sau chiến tranh biên giới, Đổi mới và nâng cấp lên thành phố); 2002 - 2012 (10 năm xây dựng thành phố thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH).

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử xác thực: Khai thác và công bố nhiều nguồn tư liệu lưu trữ gốc bằng tiếng Pháp (Phủ Thống sứ Bắc Kỳ) và các quyết định, đồ án quy hoạch của chính quyền địa phương qua các thời kỳ, tạo cơ sở dữ liệu tin cậy cho việc nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương tỉnh Lạng Sơn.
  • Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn quản lý: Luận án đúc kết các bài học kinh nghiệm về quy hoạch không gian, quản lý kiến trúc, kiểm soát vệ sinh môi trường đô thị và chính sách phát triển kinh tế thương mại cửa khẩu, cung cấp luận cứ thực tiễn cho chính quyền thành phố Lạng Sơn và tỉnh Lạng Sơn trong công tác quản lý đô thị hiện nay.

Hệ thống các bảng số liệu thực chứng trong luận án

Dưới đây là bảng tổng hợp các danh mục bảng số liệu, tư liệu thống kê gốc được tác giả xây dựng trong công trình:

TT Tên bảng số liệu trong văn bản luận án Khung thời gian / Mốc số liệu Nội dung phản ánh chính
1 Biểu thuế nhà, đất tại trung tâm đô thị Lạng Sơn Thời kỳ thuộc Pháp Khung mức thuế áp dụng theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương
2 Bảng thống kê một số dân tộc chủ yếu sinh sống trên địa bàn thị xã Lạng Sơn Năm 1954 Thành phần dân tộc tại đô thị sau ngày giải phóng
3 Tổng số học sinh các cấp tại thị xã Lạng Sơn Tính đến năm 1955 Thực trạng quy mô giáo dục sau khi khôi phục hòa bình
4 Dân số thị xã Lạng Sơn Giai đoạn 1989 - 1999 Biến động dân số trong thập niên đầu Đổi mới
5 Tỉ lệ tăng dân số thị xã Lạng Sơn vùng nội thị và nông thôn Thời kỳ Đổi mới So sánh mức tăng dân số cơ học và tự nhiên giữa hai vùng
6 Tình hình lao động, việc làm các phường thị xã Lạng Sơn Thời kỳ Đổi mới Phân bố lao động theo đơn vị hành chính cấp phường
7 Phân tích độ tuổi và trình độ chuyên môn đối tượng việc làm Năm 1999 Chất lượng nguồn nhân lực đô thị trước khi lên thành phố
8 Số cơ sở, lao động ngành thương mại, dịch vụ - du lịch Giai đoạn chuyển đổi Quy mô phát triển của khu vực kinh tế dịch vụ
9 Tốc độ tăng trưởng kinh tế và GDP bình quân thành phố Lạng Sơn so với tỉnh Giai đoạn 2002 - 2012 So sánh chỉ số phát triển kinh tế giữa đô thị tỉnh lỵ và toàn tỉnh
10 Một số chỉ tiêu ngành về thương mại, du lịch, khách sạn Giai đoạn 2002 - 2012 Kết quả phát triển ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của công trình

  • Do điều kiện tiếp cận tư liệu Hán Nôm và các văn bản gốc tiếng Pháp giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX còn hạn chế, các phân tích về sự hình thành đô thị tiền thuộc địa (thời kỳ Trấn lỵ Đoàn thành trước năm 1925) chủ yếu dựa vào các tài liệu dịch và công trình đã công bố như "Lạng Sơn Đoàn thành đồ", chưa khai thác sâu được nguồn châu bản triều Nguyễn liên quan đến Lạng Sơn.
  • Mốc giới hạn nghiên cứu dừng lại ở năm 2012 (được tác giả lý giải là để tạo thuận lợi cho việc khai thác các hồ sơ lưu trữ theo quy chế lưu trữ hiện hành), do đó chưa phản ánh được những chuyển biến mạnh mẽ trong công tác chỉnh trang đô thị, mở rộng không gian hành chính và nâng cấp hạ tầng giao thông biên giới của thành phố Lạng Sơn từ sau năm 2012 đến nay.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Tiếp tục mở rộng khảo sát các nguồn tư liệu lưu trữ nước ngoài (đặc biệt là hồ sơ lưu trữ của chính quyền thực dân Pháp tại Aix-en-Provence và các tư liệu thư tịch của Trung Quốc liên quan đến quan hệ thương mại qua cửa ải Lạng Sơn) nhằm làm rõ sâu hơn diện mạo đô thị Lạng Sơn thời kỳ trung và cận đại.
  • Thực hiện các đề tài nghiên cứu so sánh tiến trình đô thị hóa giữa thành phố Lạng Sơn với các đô thị cửa khẩu biên giới phía Bắc khác (như thành phố Lào Cai, thành phố Móng Cái, thị xã Cao Bằng) để khái quát hóa toàn diện các quy luật phát triển của mạng lưới đô thị biên cương Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giới nghiên cứu và đào tạo lịch sử: Cung cấp nguồn sử liệu phong phú, đáng tin cậy về lịch sử đô thị Việt Nam nói chung và lịch sử địa phương Lạng Sơn nói riêng; hữu ích cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên và giáo viên bộ môn Lịch sử trong việc biên soạn giáo trình, bài giảng địa phương chí.
  • Các nhà quy hoạch và quản lý đô thị: Chương 2, Chương 4 và Chương 5 cung cấp những dữ liệu lịch sử quan trọng về quy hoạch không gian, quản lý trật tự xây dựng, kinh nghiệm phân khu chức năng (giữa khu vực hành chính công và khu thương mại buôn bán) qua các thời kỳ, giúp các cơ quan quản lý đô thị thành phố Lạng Sơn có thêm cơ sở khoa học để xây dựng chính sách bảo tồn di sản gắn với chỉnh trang đô thị hiện đại.
  • Cơ quan hoạch định chính sách kinh tế - xã hội biên giới: Cung cấp bức tranh phân tích thực chứng về sự biến đổi cơ cấu lao động, thương mại cửa khẩu và dịch vụ du lịch, phục vụ công tác xây dựng chiến lược phát triển kinh tế đối ngoại của tỉnh Lạng Sơn trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Thị xã Lạng Sơn được thành lập chính thức vào thời gian nào và trên cơ sở pháp lý nào?

Thị xã Lạng Sơn được chính thức thành lập vào năm 1925 theo Nghị định số 30431 của Toàn quyền Đông Dương (căn cứ theo công điện của Chánh văn phòng Phó Thống sứ Bắc Kỳ ngày 23/9/1925 về việc thiết lập Lạng Sơn - Thất Khê thành thị xã), trở thành trung tâm đô thị tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn.

2. Dòng sông Kỳ Cùng tạo nên cấu trúc không gian đặc thù nào cho thị xã Lạng Sơn thời thuộc Pháp?

Sông Kỳ Cùng đóng vai trò ranh giới tự nhiên chia thị xã thành hai phân khu rõ rệt: khu "bên Tỉnh" (khu Chi Lăng ở phía Nam sông) là trung tâm đầu não hành chính, quân sự và công sở kiểu Pháp với quy hoạch đường ô vuông rộng trên 10m; khu "bên Kỳ Lừa" (ở phía Bắc sông) là trung tâm dân cư và buôn bán truyền thống của người Việt và người Hoa, gắn liền với mạng lưới phố chợ quanh chợ Kỳ Lừa với các dãy nhà đất trình, ngói âm dương và đường sá chật hẹp.

3. Phương thức hình thành đô thị đặc trưng của Lạng Sơn được luận án xác định là gì?

Luận án chỉ ra đô thị Lạng Sơn hình thành và phát triển theo phương thức đặc thù "thị có trước, đô có sau". Hoạt động trao đổi buôn bán tại phố chợ Kỳ Lừa và các tụ điểm giao thương biên mậu đã hình thành từ rất sớm, tạo nền tảng kinh tế cho sự xuất hiện của trung tâm hành chính - quân sự Đoàn thành và sự phát triển của đô thị Lạng Sơn sau này.

4. Vì sao tác giả lựa chọn mốc thời gian kết thúc nghiên cứu vào năm 2012?

Mốc năm 2012 đánh dấu tròn một thập niên xây dựng và phát triển của thành phố Lạng Sơn kể từ khi Chính phủ ban hành Nghị định nâng cấp từ thị xã lên thành phố (tháng 10/2002 - năm 2012). Việc chọn mốc này giúp tác giả tổng kết được một giai đoạn phát triển trọn vẹn trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH, đồng thời phù hợp với điều kiện tiếp cận và giải mật các nguồn hồ sơ lưu trữ hành chính của địa phương.

5. Nguồn tư liệu lưu trữ gốc thời Pháp thuộc của luận án được khai thác chủ yếu ở đâu?

Tác giả khai thác tập trung tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (Hà Nội), chủ yếu qua 3 phông tài liệu lưu trữ: Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (Fonds de la Résidence Supérieure au Tonkin), Phủ Toàn quyền Đông Dương và Nha Kinh lược Bắc Kỳ; nổi bật là các hồ sơ thuộc dãy tài liệu E (E2) về tổ chức chính quyền địa phương và điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh Lạng Sơn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Hương Liên là công trình sử học chuyên khảo đầu tiên phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống quá trình hình thành, biến đổi của đô thị Lạng Sơn từ năm 1925 đến năm 2012. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp liên ngành và nguồn tư liệu lưu trữ gốc phong phú, công trình đã làm sáng tỏ quy luật phát triển đặc thù "thị có trước, đô có sau" của một trung tâm thương mại cửa khẩu miền núi biên giới Đông Bắc. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp quan trọng về mặt sử liệu học và lý luận đô thị học địa phương, mà còn cung cấp những luận cứ khoa học thực tiễn giá trị cho công tác quy hoạch, quản lý và phát triển bền vững thành phố Lạng Sơn hiện nay.