Chương 1 - NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA QUÁ TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC VIỆT NAM 1. Những tiền đề lịch sử - xã hội 1. Quá trình xâm lăng của thực dân Pháp và những chuyển biến về thể chế chính trị 1. Năm 1858, thực dân Pháp nổ phát súng đầu tiên ở Đà Nẵng, báo hiệu cuộc xâm lược chính thức nước ta.
Tính từ khi đồn Kỳ Hòa thất thủ (1861), Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông (1862) rồi chiếm cả sáu tỉnh Nam Kỳ (1867), cho đến hòa ước Patenôtre (1884) thì Việt Nam hoàn toàn mất hết độc lập chủ quyền. Từ đó đã dẫn đến nhiều chuyển biến cực kỳ quan trọng trong xã hội: nước Việt Nam phong kiến nông nghiệp trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến với hai tầng áp bức: thực dân Pháp và vua quan, địa chủ phong kiến. Chính biến cố trọng đại này đã làm biến đổi sâu xa mọi phương diện, trong đó có văn học nghệ thuật, của đất nước ta. Ngay sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhân dân Nam Kỳ đã không ngừng đứng lên chống Pháp, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Hồ Huân Nghiệp, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương, Nguyễn Trung Trực… Trong hoàn cảnh bấy giờ, tuyệt đại đa số nhân dân không hợp tác với chính quyền địch.
Có nhiều nơi, người dân tự tay đốt nhà cửa, vườn tược. Những người không có điều kiện đi theo nghĩa quân thì họ cũng “tị địa” ra khỏi “đất quỷ” (vùng đất bị Pháp chiếm - Dương Thu Thủy). Tuy nhiên, các phong trào kháng Pháp lần lượt đi vào bế tắc, thất bại. Năm 1896, với sự tuẫn tiết của Phan Đình Phùng, phong trào chống Pháp dưới lá cờ Cần Vương rầm rộ suốt mấy mươi năm nổ ra ở hầu hết các tỉnh đã chấm dứt.
Như vậy đến lúc này, về căn bản, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc “bình định” Việt Nam về mặt quân sự, và trên cơ sở đó, họ đã có 18 thể bắt tay vào khai thác thuộc địa Việt Nam nói riêng cũng như Đông Dương nói chung. Chính sách khai thác thuộc địa về kinh tế được thực hiện một cách triệt để như độc chiếm thị trường, mua rẻ nông phẩm; độc quyền ngoại thương và các ngành kinh doanh quan trọng (khai mỏ, giao thông, làm muối, nấu rượu, thuốc phiện,…). Độc quyền ngân hàng đầu tư vào các ngành có lợi cho việc vơ vét tài nguyên, hàng hóa để xuất khẩu. Với mục đích biến Việt Nam trở thành một bộ phận của “Pháp quốc hải ngoại”, thực dân Pháp đã đầu tư với tốc độ nhanh, qui mô lớn vào các ngành kinh tế ở Việt Nam.
Theo thống kê: chỉ trong vòng 6 năm (1924 - 1929), số vốn đầu tư vào Đông Dương, chủ yếu là vào Việt Nam, lên khoảng 4 tỷ phrăng (Lịch sử 12 - Nhà xuất bản Giáo dục năm 2008). Trong đó, vốn đầu tư vào nông nghiệp, chủ yếu là cho đồn điền cao su. Diện tích trồng cao su được mở rộng, nhiều đồn điền cao su xuất hiện như: đồn điền cao su Cam Tiêm, đồn điền cao su Phú Riềng. Pháp còn mở rộng một số ngành công nghiệp như: dệt, muối, xay sát… Các nhà máy xi măng Hải Phòng, nhà máy cưa Bến Thủy … lần lượt ra đời.
Nhà máy dệt Nam Định được xây dựng từ những năm cuối thế kỷ XIX nay được mở rộng, nâng cấp để trở thành một trung tâm dệt nổi tiếng trên toàn quốc với một tổ hợp nhà máy khép kín từ khâu đầu đến khâu cuối. Tư bản Pháp rất coi trọng đến việc khai thác mỏ, trước hết là than. Công ty than Hòn Gai thành lập năm 1888, một năm sau tổng sản lượng than ở Đông Dương đã lên tới 260. Từ năm 1890 đến 1904 các công trình khai thác than càng được đẩy mạnh.
Ngoài than, các cơ sở khai thác thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), bạc ở Ngân Sơn (Bắc Cạn), vàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam)… đều được bổ sung thêm vốn, nhân công và đẩy mạnh tiến độ khai thác. Giao thông vận tải, đã được thực dân Pháp đầu tư xây dựng ngay từ đầu, nay được tiếp tục đầu tư vốn và kỹ thuật. Ngoài các tuyến đường sắt ở 19 miền Nam, thực dân Pháp tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt như Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm. Đường bộ cũng tiếp tục được xây dựng.
Nếu như đường sắt, đường bộ có vị trí quan trọng trong kinh tế đối nội, thì đường thủy đóng vai trò chủ đạo trong kinh tế đối ngoại. Vì thế, cùng với các hải cảng đã xây dựng trong đợt khai thác thuộc địa lần thứ nhất như cảng Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, thực dân Pháp tiếp tục cho xây dựng các hải cảng mới như Hòn Gai, Bến Thủy. Mạng lưới vận tải đường sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long cũng được khai thác triệt để. Bên cạnh đó, thực dân Pháp còn lợi dụng quyền thống trị về chính trị để duy trì bộ máy quan liêu, cường hào và những luật lệ của chế độ phong kiến để ra sức chiếm đoạt ruộng đất, tăng cường bóc lột sưu thuế, sưu dịch, làm phá sản nông dân và thợ thủ công, tạo ra nguồn nhân công rẻ mạt để thực hiện công cuộc khai thác tại thuộc địa và xuất khẩu lao động sang Pháp.
Kết quả của các chính sách ấy là nền kinh tế cổ xưa bị phân giải, lưu thông hàng hóa phát triển, nước ta bị kéo vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản. Thực dân Pháp biến Việt Nam từ một nước đang theo chế độ “quân chủ” thành một nước theo chế độ “thực dân nửa phong kiến”. Sau khi đặt xong bộ máy chính quyền ở Việt Nam, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện âm mưu và chính sách Pháp hóa đối với dân tộc ta. Với chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia Việt Nam ra làm ba kỳ riêng biệt (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ).
Mỗi kỳ có một chính sách luật lệ riêng, trong đó Nam Kỳ trở thành xứ thuộc Pháp với những nét riêng về chính trị, kinh tế, xã hội rộng, thoáng hơn so với Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Pháp tăng cường tuyển mộ lính và khai thác kinh tế thuộc địa, lập nhiều đồn điền ở Nam Bộ, xây dựng cảng Sài Gòn, mở đường xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho, xây cầu trên sông Vàm Cỏ, lập nhiều công xưởng như đóng tàu, nhà máy xay lúa ở Sài Gòn, Chợ Lớn…. Những cơ sở kinh tế ban đầu này khiến nền kinh tế Nam Kỳ 20 phát triển mạnh mẽ, tạo độ chênh lớn giữa ba miền Bắc - Trung - Nam. Cùng với những chính sách về kinh tế, thực dân Pháp còn tiến hành nhiều chủ trương và biện pháp chính trị vừa mang tính chất cải lương vừa thể hiện sự giả dối bịp bợm, nhằm mục đích củng cố quyền vị thống trị của chúng.
Chẳng hạn: thành lập các Viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ. Các phòng thương mại và canh nông của những thành phố lớn được mở rộng cho người Việt tham gia. Năm 1928, thực dân Pháp lập ra Đại hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương với tư cách là cơ quan tư vấn về vấn đề kinh tế, tài chính trong Liên bang Đông Dương. Ở khu vực nông thôn, thực dân Pháp tiến hành "cải lương hương chính” nhằm từng bước can thiệp trực tiếp vào công việc nội bộ của làng xã, loại bỏ dần tính chất tự trị của nó.
Mặc dù, trên nguyên tắc, công cuộc “cải lương hương chính” vẫn chấp nhận cơ chế quản lý làng xã cổ truyền, nhưng trong một chừng mực nào đó thực dân Pháp đã đạt được mục tiêu can thiệp trực tiếp vào công việc làng xã bằng cách kiểm soát nhân sự, tài chính của bộ máy làng xã. Song song đó, chúng đẩy mạnh chính sách văn hóa ngu dân và tư tưởng nô dịch đối với quần chúng nhân dân. Chúng mở nhiều nhà tù hơn trường học, chúng bắt học sinh từ 18 tuổi trở lên ở các trường tư thục phải đóng thuế thân để hạn chế việc học tập của con em tầng lớp nghèo. Chính quyền thực dân cấm nhân dân ta đọc và lưu hành những tác phẩm có nội dung, tư tưởng tiến bộ.
Trước thế chiến thứ II, do phong trào đấu tranh của quần chúng, chế độ kiểm duyệt của thực dân Pháp có lúc được nới lỏng, nhưng từ khi đại chiến thế giới lần thứ II sắp bùng nổ, lệnh kiểm duyệt của chúng trở nên gắt gao hơn. Mặt khác, chúng cho du nhập những sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy của phương Tây vào Việt Nam. Chúng lại không ngừng rêu rao quan điểm: thực dân Pháp sang Việt Nam với sứ mệnh đem ngọn đuốc văn minh của nước mẹ Đại Pháp sang truyền bá cho nhân dân Việt Nam. Và để đạt được mục đích, chúng chủ trương mị dân như: 21 chính sách “Pháp - Việt đề huề”; phát động các phong trào “Âu hoá”, “Vui vẻ trẻ trung” ở khắp các thành thị để mê hoặc và ru ngủ lớp thanh niên mới lớn.
Song song với các chủ trương mị dân này, thực dân Pháp còn xây dựng và thiết lập hệ thống giáo dục, trong đó, tiếng Pháp đã lấn át tiếng mẹ đẻ. Mục đích của chương trình này là nhằm đào tạo ra những con người phục vụ cho chính quyền thực dân. Tuy nhiên, trong các trường Pháp - Việt, học sinh, sinh viên Việt Nam cũng có điều kiện tiếp thu được một phần nền văn hóa tiến bộ của phương Tây. Có thể thấy rằng, với công cuộc khai thác về kinh tế, việc áp đặt về chính trị, thực hiện chính sách ngu dân cực kỳ thâm độc; chế độ thực dân nửa phong kiến hình thành khiến đời sống nhân dân ta, đặc biệt là nông dân lâm vào cơ cực.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, đối với tình hình trì trệ lâu đời của xã hội phong kiến Việt Nam, quá trình khai thác thuộc địa, việc thiết lập hệ thống chính trị mới của thực dân Pháp ở nước ta về khách quan đã mang đến những biến đổi lớn lao làm cho mọi hoạt động của xã hội Việt Nam đều thay đổi trong đó có văn học nghệ thuật nói chung và nghiên cứu văn học nói riêng. Những biến động lớn của xã hội Như đã trình bày, chính quá trình khai thác thuộc địa ngày một mở rộng cùng với việc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa ở một số đô thị lớn như Hải Phòng, Vinh, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn… đã làm cho sự phân hóa giai cấp diễn ra vô cùng sâu sắc và nhanh chóng làm xuất hiện nhiều giai cấp và tầng lớp mới trong xã hội. Trước hết là sự xuất hiện của giai cấp tư sản.