Tổng quan luận án

Công trình Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của tác giả Dương Thu Thủy là luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 34 01), được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2010 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trần Hữu Tá. Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính, sử dụng phương pháp luận nghiên cứu văn học sử để khảo sát tiến trình phát triển và hiện đại hóa của học thuật văn học nước nhà trong giai đoạn 1900 - 1945.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, hoạt động nghiên cứu văn học đã hình thành và tích lũy được nhiều thành tựu quan trọng. Các thành tựu này từng được đề cập trong các bộ lịch sử văn học cũng như các chuyên khảo của cá nhân và tập thể tác giả từ đầu thế kỷ XX đến nay, tiêu biểu như Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam (1957) của nhóm Lê Quý Đôn, Văn học Việt Nam (1900 - 1945) (1999) do Phan Cự Đệ chủ biên, Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (1976), Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 (1981), Văn học Việt Nam thế kỷ XX (Những vấn đề lịch sử và lý luận) (2004), Lược khảo văn học (1963, 1968) của Nguyễn Văn Trung, Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (1965) của Phạm Thế Ngũ, Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967) của Thanh Lãng, Văn học sử thời kháng Pháp 1858 - 1945 (1972) của Lê Văn Siêu.

Tuy nhiên, trong các tài liệu trên, thành tựu về nghiên cứu (quan điểm nghệ thuật, lý thuyết, phương pháp) phần lớn chỉ được đề cập xen kẽ, phụ thuộc vào việc trình bày các thành tựu sáng tác trong cùng thời kỳ. Việc tổng kết độc lập và chuyên biệt về lĩnh vực nghiên cứu văn học giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX hầu như rất hiếm và chưa được quan tâm thỏa đáng. Do đó, luận án xác định khoảng trống học thuật cần giải quyết là xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên sâu, tổng kết riêng biệt các thành tựu của hoạt động nghiên cứu văn học để đánh giá thỏa đáng vị trí của lĩnh vực này trong tiến trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu cụ thể:

  1. Đánh giá một cách khách quan, khoa học những thành tựu và hạn chế của quá trình hiện đại hoá hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX.
  2. Nêu lên những đóng góp của hoạt động nghiên cứu văn học trong thành tựu chung của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
  3. Rút ra những bài học kinh nghiệm về quá trình hiện đại hoá văn học nhằm vận dụng vào công cuộc hiện đại hoá văn học hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu văn học ở giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX đã có độ lùi thời gian nhất định của các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp hoặc không chuyên; tập trung khảo sát quá trình hiện đại hóa qua những thành tựu chủ yếu, hệ thống phương pháp nghiên cứu và các nguyên nhân dẫn đến thành tựu đó. Trọng tâm hướng vào những công trình tiêu biểu có đóng góp đổi mới về quan điểm lý thuyết và phương pháp thực hành.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn trong phạm vi thời gian từ năm 1900 đến năm 1945 tại Việt Nam; tập trung vào những yếu tố nổi trội cấu thành quá trình hiện đại hóa và các tác phẩm tiêu biểu của những tác giả có đóng góp cụ thể, không đặt mục tiêu khảo sát toàn bộ tác giả và tác phẩm xuất hiện trong giai đoạn này.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã điểm lại có hệ thống các công trình nghiên cứu trước đó liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phê bình văn học nửa đầu thế kỷ XX:

Giai đoạn công bố Tác giả / Nhóm tác giả Tên công trình tiêu biểu Đặc điểm và nhận định của luận án
Trước 1945 Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Thạch Lam, Kiều Thanh Quế, Diệu Anh Đinh Gia Trinh, Nguyễn Văn Tố... Các bài viết, chuyên luận bàn về quan điểm, phương pháp, thể loại, tác giả Hoạt động nghiên cứu thời kỳ này đều được gọi chung là "phê bình văn học", xuất hiện dạng thức "phê bình của phê bình".
Vũ Ngọc Phan Nhà văn hiện đại (1942) Đã có ý thức xếp riêng các nhà văn viết phê bình và nghiên cứu vào một phần để đánh giá.
1945 - 1975 Nhóm Lê Quý Đôn Lược thảo văn học Việt Nam (tập 3, 1957) Đề cập đến hoạt động nghiên cứu văn học bên cạnh sáng tác, nhưng vẫn xem nghiên cứu như một hình thức của phê bình.
Thanh Lãng Bảng lược đồ văn học Việt Nam (1967), Phê bình văn học thế hệ 1932 - 1945 (2 tập, 1972 - 1975) Cung cấp tư liệu phong phú về lý thuyết, sự phân hóa lực lượng, 10 vụ án văn học, 6 khuynh hướng và 17 nhà phê bình; tuy nhiên mang tính khảo cứu, liệt kê sự kiện, chưa làm rõ quy luật phát triển nội tại.
Phạm Thế Ngũ Việt Nam văn học sử giản ước tân biên 1862 - 1945 (tập 3, 1965) Dành một số trang giới thiệu biên khảo và phê bình giai đoạn 1907 - 1932 và đánh giá cao hoạt động phê bình giai đoạn 1940 - 1945.
Nguyễn Văn Trung Lược khảo văn học: Nghiên cứu và phê bình văn học (tập 3, 1968) Mô hình hóa 5 quan niệm phê bình: ấn tượng chủ quan giáo điều, giáo khoa, luân lý, phân tâm học và xã hội.
Lê Văn Siêu Văn học sử thời kháng Pháp 1858 - 1945 (1972) Giới thiệu sơ lược một số nhà biên khảo, phê bình và nghiên cứu như Đào Duy Anh, Đặng Thai Mai, Phan Văn Hùm, Trần Thanh Mại, Trương Tửu...
Sau 1975 Huỳnh Lý, Nguyễn Trác, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Hoàng Dung Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1900 - 1930 (1981), Lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 Dành dung lượng khiêm tốn cho hoạt động phê bình, nghiên cứu so với phần sáng tác.
Phạm Thị Mến; Trần Hạnh Mai; Dương Thu Thủy; Hồ Vi Thường Các luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ (2000 - 2005) Khảo sát thành tựu của từng tác gia riêng lẻ (Hoài Thanh, Trần Thanh Mại) hoặc từng khuynh hướng cụ thể (phê bình mác-xít).
Trần Mạnh Tiến Lý luận phê bình văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX (2001) Tập trung làm rõ tình hình, đặc điểm lý luận và phê bình trong 30 năm đầu thế kỷ XX (truyền thống và mới, tranh luận Truyện Kiều).
Trần Thị Việt Trung Lịch sử phê bình văn học Việt Nam (giai đoạn đầu thế kỷ XX đến năm 1945) (2002) Phân tích tiền đề lịch sử - xã hội, báo chí và dựng chân dung các nhà phê bình chủ yếu (Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều).
Nguyễn Thị Thanh Xuân Phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) (2004) Khảo sát 12 tác giả phê bình tiêu biểu; nhận định phê bình giai đoạn này đã có cơ sở lý luận tuy chưa hoàn chỉnh.
Nguyễn Văn Dân Phương pháp luận nghiên cứu văn học (2004) Phân tích đóng góp và hạn chế về phương pháp của Trần Thanh Mại, Hoài Thanh, Trương Tửu nhằm mục đích minh họa phương pháp luận.
Phan Cự Đệ (chủ biên), phần của Trần Đình Sử Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lý luận và lịch sử (2004) Phân kỳ 2 giai đoạn (1900 - 1932 và 1932 - 1945), xác lập 6 thể loại phê bình và phân chia 4 khuynh hướng nhà lý luận, phê bình.
Nguyễn Ngọc Thiện (chủ biên) Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945 (2005) Tập hợp 27 bài viết khảo sát diện mạo và 10 tác gia lý luận, phê bình tiêu biểu.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước năm 1975 và sau năm 1975 chủ yếu tập trung vào mảng "phê bình văn học", hoặc lồng ghép nghiên cứu vào lịch sử sáng tác, hoặc chỉ khảo sát chuyên biệt từng tác gia, từng khuynh hướng đơn lẻ. Luận án của Dương Thu Thủy lựa chọn lấp đầy khoảng trống này bằng cách khảo sát toàn diện quá trình hiện đại hóa của toàn bộ hoạt động nghiên cứu văn học (bao gồm lý luận văn học, văn học sử, nghiên cứu văn học nước ngoài và các phương pháp nghiên cứu) trong nửa đầu thế kỷ XX.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và xác lập khái niệm

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên việc phân định các khái niệm chuyên ngành từ Từ điển thuật ngữ văn học và Từ điển văn học (Bộ mới, 2004):

  • Nghiên cứu văn học: Là chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn lấy nghệ thuật ngôn từ làm đối tượng; theo cấu trúc truyền thống bao gồm ba bộ môn chính: Lý luận văn học (nghiên cứu quy luật chung của cấu trúc và sự phát triển văn học), Lịch sử văn học (khảo sát văn học quá khứ như một quá trình) và Phê bình văn học (đánh giá trạng thái văn học đương thời và lý giải văn học quá khứ từ góc nhìn hiện tại). Luận án phân biệt rõ: phê bình có tính thời sự, khen chê kịp thời; nghiên cứu nhìn nhận đối tượng một cách toàn diện, thấy được bản chất bên trong và ngoài của đối tượng đã có độ lùi thời gian ổn định.
  • Luận án xác lập định nghĩa thao tác: Hoạt động nghiên cứu văn học là quá trình xem xét, tìm hiểu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các tác gia, tác phẩm, hiện tượng văn học quá khứ hoặc đương thời đã có độ lùi thời gian nhất định (bao gồm văn học trong nước và nước ngoài).
  • Hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học: Tiếp thu quan điểm của Lê Ngọc Trà về hiện đại hóa (quá trình tiếp nhận ảnh hưởng phương Tây, thoát ly hệ thống thi pháp trung đại để xác lập thi pháp mới), luận án quan niệm hiện đại hóa nghiên cứu văn học là sự thay đổi về tư duy của nhà nghiên cứu, dẫn đến sự đổi mới trong cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu nhằm đánh giá đối tượng một cách khách quan, khoa học và toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án là công trình nghiên cứu văn học sử, sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính:

  • Phương pháp nghiên cứu văn học sử: Phương pháp chủ đạo, đặt các hiện tượng nghiên cứu trong mối quan hệ hữu cơ với bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa nửa đầu thế kỷ XX và sự vận động chung của văn học dân tộc.
  • Phương pháp hệ thống loại hình: Sử dụng để hệ thống hóa, phân loại các công trình nghiên cứu, xác định vị trí, ý nghĩa và phân lập các xu hướng, trường phái nghiên cứu.
  • Phương pháp lịch sử loại hình: Sử dụng để so sánh đối chiếu các đối tượng cùng loại theo trục lịch đại và đồng đại nhằm làm rõ tính chất hiện đại của từng hiện tượng học thuật.
  • Các thao tác bổ trợ: Phân tích văn bản, tổng hợp tư liệu, phân loại và đối chiếu văn bản.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản các công trình biên khảo, nghiên cứu, sách giáo khoa văn học sử xuất bản trong giai đoạn 1900 - 1945.
  • Các bài viết, tiểu luận, tranh luận học thuật đăng tải trên hệ thống báo chí, tạp chí thời kỳ này (Nam Phong tạp chí, Đông Dương tạp chí, Trung Bắc tân văn, Hữu Thanh, Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy, Trung Bắc chủ nhật, Phong hóa, Ngày nay, Tao đàn, Tràng an, Hà Nội báo...).
  • Các bản dịch thuật tác phẩm văn học Pháp và văn học cổ điển Trung Hoa; các tài liệu giáo khoa chương trình Pháp - Việt (tiêu biểu như sách Lịch sử văn học Pháp của Gustave Lanson).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 - Những tiền đề cơ bản của quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam

Chương 1 phân tích toàn diện các nhân tố lịch sử, xã hội, kỹ thuật, ngôn ngữ, giáo dục và văn học làm nền tảng thúc đẩy hoạt động nghiên cứu văn học chuyển mình sang quỹ đạo hiện đại.

1. Tiền đề lịch sử - xã hội và chuyển biến thể chế chính trị

  • Quá trình xâm lược của thực dân Pháp từ năm 1858 (Đà Nẵng), 1861 (Kỳ Hòa), 1862 (ba tỉnh miền Đông), 1867 (sáu tỉnh Nam Kỳ) đến năm 1884 (Hòa ước Patenôtre) đã biến Việt Nam từ một nước phong kiến độc lập thành xứ thuộc địa nửa phong kiến. Sau khi phong trào Cần Vương kết thúc năm 1896 (Phan Đình Phùng tuẫn tiết), Pháp hoàn thành công cuộc bình định quân sự và đẩy mạnh khai thác thuộc địa.
  • Chính sách kinh tế tư bản thâm nhập sâu rộng: Trong giai đoạn 1924 - 1929, số vốn đầu tư của Pháp vào Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) lên khoảng 4 tỷ phrăng. Pháp mở rộng đồn điền cao su (Cam Tiêm, Phú Riềng), phát triển công nghiệp (xi măng Hải Phòng, dệt Nam Định, cưa Bến Thủy), khai thác mỏ than Hòn Gai (thành lập năm 1888, sản lượng năm 1889 đạt 260.000 tấn), mỏ thiếc Tĩnh Túc, mỏ bạc Ngân Sơn, mỏ vàng Bồng Miêu. Hệ thống đường sắt (Vinh - Đông Hà, Đồng Đăng - Na Sầm, Sài Gòn - Mỹ Tho), đường bộ và các hải cảng (Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hòn Gai, Bến Thủy) được mở mang phục vụ vận chuyển hàng hóa và quân sự.
  • Thể chế chính trị bị chia cắt thành ba kỳ với các đạo luật riêng biệt. Pháp can thiệp vào làng xã qua chính sách "cải lương hương chính", lập các Viện dân biểu, và năm 1928 lập Đại hội đồng Kinh tế Tài chính Đông Dương.

2. Những biến động lớn của cơ cấu xã hội

  • Sự phân hóa xã hội làm xuất hiện các giai cấp và tầng lớp mới:
    • Giai cấp tư sản (gồm tư sản mại bản và tư sản dân tộc).
    • Giai cấp công nhân hình thành từ nông dân mất đất, tập trung ở các xí nghiệp, đồn điền, có thu nhập ổn định và phát sinh nhu cầu hưởng thụ văn hóa mới.
    • Tầng lớp tiểu tư sản trí thức thành thị (học sinh, sinh viên, công chức, tiểu thương) giữ vai trò chủ chốt trong đời sống văn hóa mới.
  • Sự hình thành thị dân và môi trường đô thị kéo theo sự biến đổi quan niệm về hoạt động viết văn: văn học nghệ thuật trở thành hàng hóa, xuất hiện nghề xuất bản, nghề làm báo và tầng lớp nhà văn chuyên nghiệp sống bằng ngòi bút.

3. Công cụ biểu đạt mới: Sự phổ biến của chữ quốc ngữ

  • Thực dân Pháp sử dụng các biện pháp hành chính để ép buộc và khuyến khích học chữ quốc ngữ nhằm tách rời ảnh hưởng của văn hóa Hán: Nghị định ngày 6-4-1878 quy định từ 1-1-1882 bắt buộc công chức phải viết được quốc ngữ; Thông tư ngày 28-10-1874 cấp trợ cấp từ 50 đến 100 quan cho làng viết công văn bằng chữ quốc ngữ; kỳ thi Hương năm 1906 đưa phần thi luận quốc ngữ vào nội dung thi.
  • Giới sĩ phu yêu nước và phong trào Duy tân, Minh Tân, Đông Kinh nghĩa thục (1907 - 1908) đã chủ động tiếp nhận chữ quốc ngữ làm công cụ nâng cao dân trí (Văn minh tân học sách 1904).
  • Các học giả đóng góp xây dựng văn xuôi quốc ngữ thời kỳ đầu: Trương Vĩnh Ký (phiên âm các tác phẩm cổ điển như Truyện Kiều năm 1875, Đại Nam quốc sử diễn ca năm 1887, Lục súc tranh công, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên năm 1889), Huỳnh Tịnh Của, Trương Minh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh. Chữ quốc ngữ La-tinh trở thành phương tiện biểu đạt tư duy phân tích khoa học và công cụ chuyển tải tri thức phương Tây.

4. Nền giáo dục mới kiểu Pháp - Việt

  • Hệ thống khoa cử Nho học bị xóa bỏ dần: Nam Kỳ bãi bỏ thi Hương năm 1864; Bắc Kỳ bãi bỏ năm 1915; Trung Kỳ tổ chức kỳ thi Hương cuối cùng năm 1918 và kỳ thi Hội cuối cùng chấm dứt năm 1919 tại Huế.
  • Thiết lập hệ thống giáo dục Pháp - Việt gồm 3 bậc với tổng thời gian 13 năm:
    • Bậc Tiểu học (6 năm): Thi lấy bằng Sơ đẳng tiểu học (Tiểu học yếu lược).
    • Bậc Trung học phổ thông (4 năm): Thi lấy bằng Cao đẳng tiểu học (bằng Thành chung).
    • Bậc Trung học chuyên khoa (3 năm): Học 2 năm đầu thi Tú tài phần thứ nhất, học hết năm thứ ba thi Tú tài toàn phần.
  • Các trường cao đẳng đào tạo nhân lực chuyên môn: Cao đẳng Sư phạm, Cao đẳng Canh nông, Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Đại học Y khoa, Đại học Luật.
  • Đội ngũ trí thức Tây học hình thành (Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Lê Thước, Hoàng Ngọc Phách, Phạm Quỳnh, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Thiếu Sơn...). Cuốn sách giáo khoa Lịch sử văn học Pháp (1894) của Gustave Lanson giảng dạy trong trường học đã trực tiếp truyền bá phương pháp nghiên cứu lịch sử và so sánh vào Việt Nam.

5. Sự vận động của nền văn học mới và hoạt động phê bình

  • Văn xuôi và tiểu thuyết: Từ Truyện thầy Lazarô Phiền (1887) của Nguyễn Trọng Quản đến truyện ngắn của Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn (thập niên 1920). Tiểu thuyết Nam Bộ của Hồ Biểu Chánh (Ai làm được, Chúa Tàu Kim Quy, Cay đắng mùi đời - 1922); tiểu thuyết miền Bắc với Tố Tâm (1925) của Hoàng Ngọc Phách mở đường cho trào lưu lãng mạn, tiếp nối bởi nhóm Tự lực văn đoàn và khuynh hướng hiện thực (Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng).
  • Phóng sự, tùy bút: Phóng sự đô thị và nông thôn phát triển mạnh với Tam Lang (Tôi kéo xe), Vũ Trọng Phụng (Cạm bẫy người, Cơm thầy cơm cô, Lục xì), Ngô Tất Tố (Việc làng), Trọng Lang, Hoàng Đạo (Bùn lầy nước đọng), phóng sự nhà tù của Phan Văn Hùm, Lê Văn Hiến; tùy bút xuất sắc của Nguyễn Tuân.
  • Thơ ca và Kịch nói: Phong trào Thơ Mới (Thế Lữ, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính) giải phóng cái tôi cá nhân; dòng thơ cách mạng và yêu nước (Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Tố Hữu). Thể loại kịch nói du nhập hoàn toàn từ phương Tây mở đầu bằng Chén thuốc độc (1921) của Vũ Đình Long, tiếp nối bởi Vi Huyền Đắc (Kim tiền, Ông ký Cóp), Đoàn Phú Tứ (Ngã ba, Những bức thư tình), Nguyễn Huy Tưởng (Vũ Như Tô).
  • Sự chuyển biến của hoạt động phê bình: Giai đoạn 1913 - 1930 xuất hiện các bài giới thiệu, khảo cứu, lạm bàn trên Nam Phong tạp chí (210 số trong 17 năm), Đông Dương tạp chí. Sau năm 1930, phê bình chuyên nghiệp định hình rõ nét với các cuộc tranh luận học thuật lớn: tranh luận "Nghệ thuật vị nghệ thuật" và "Nghệ thuật vị nhân sinh" (1935 - 1939) giữa nhóm Hoài Thanh, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều với Hải Triều, Hải Khách; tranh luận về tính chất tác phẩm của Vũ Trọng Phụng (1936); tranh luận về thơ Hàn Mặc Tử (1942). Giai đoạn 1940 - 1945 xuất hiện xu hướng viết sách tổng kết như Theo dòng (1941) của Thạch Lam, Ba mươi năm văn học (1941) của Mộc Khuê, Cuốn sổ Văn học (1944) của Lê Thanh.
  • Hoạt động dịch thuật: Bản dịch tiếng Pháp sang quốc ngữ sớm nhất là Truyện Phan Sa dịch ra quốc ngữ (1884) của Trương Minh Ký. Tiếp đó là dịch kịch của Molière, Corneille; tiểu thuyết của V. Hugo, A. Dumas, H. de Balzac; thơ của Lamartine, Musset; dịch tiểu thuyết cổ điển Trung Hoa; các bài tiểu luận giới thiệu thể loại của Phạm Quỳnh (Thơ là gì?, Nghệ thuật viết tiểu thuyết, Nghệ thuật viết kịch).

Chương 2 - Những chặng đường phát triển của hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Chương 2 phân tích tiến trình vận động lịch sử của hoạt động nghiên cứu văn học qua hai chặng đường cơ bản:

1. Giai đoạn 30 năm đầu thế kỷ XX

  • Ảnh hưởng của quan niệm cổ điển: Hoạt động nghiên cứu vẫn chịu sự chi phối mạnh mẽ của tư duy Nho giáo truyền thống, xem văn học gắn liền với chức năng chở đạo, giáo huấn luân lý và duy trì phong hóa. Lối bình điểm, tầm chương trích cú, bình phẩm theo cảm nhận chủ quan còn phổ biến trên các bài báo và mục giới thiệu sách.
  • Bước khởi đầu của quá trình hiện đại hóa: Đã xuất hiện những nỗ lực áp dụng tư duy phân tích khoa học phương Tây để sưu tầm, khảo dị văn bản cổ, chú giải văn học dân gian và văn học viết bằng chữ quốc ngữ. Nổi bật là các cuộc tranh luận học thuật bước đầu (như cuộc tranh luận về giá trị tư tưởng và nghệ thuật của Truyện Kiều vào những năm 1920) đánh dấu sự rạn nứt của hệ thống quan niệm cũ và mở đường cho tiêu chí thẩm mỹ mới.

2. Giai đoạn 1930 - 1945 - Những chuyển biến trong quá trình hiện đại hóa

  • Nghiên cứu văn học sử:
    • Những công trình riêng về từng thời kỳ, từng lĩnh vực văn học: Xuất hiện các chuyên khảo đi sâu vào từng giai đoạn, từng thể loại hoặc tác gia cụ thể, sử dụng tư liệu lịch sử xác thực để phân tích quy luật vận động của văn học dân tộc.
    • Những công trình khái quát cả quá trình văn học: Hình thành các bộ văn học sử có kết cấu chặt chẽ, tiêu biểu như các công trình biên khảo của Dương Quảng Hàm, Lê Thanh, Kiều Thanh Quế..., xây dựng trục thời gian lịch sử và phân kỳ văn học dựa trên các mốc biến chuyển văn hóa - xã hội.
  • Nghiên cứu văn học nước ngoài: Tiếp nhận, giới thiệu và phê bình có hệ thống các tác gia, trào lưu văn học phương Tây (chủ yếu là văn học Pháp) cũng như văn học cổ điển phương Đông, giúp mở rộng tầm nhìn lý thuyết cho giới học thuật trong nước.
  • Nghiên cứu lý luận văn học: Tách dần khỏi lối bình luận cảm tính để hình thành hệ thống khái niệm, phạm trù lý luận văn học hiện đại (bản chất nghệ thuật, chức năng văn học, mối quan hệ giữa văn học và hiện thực đời sống).

Chương 3 - Những đổi mới về phương pháp nghiên cứu

Chương 3 đi sâu vào các phương pháp nghiên cứu học thuật được du nhập, thể nghiệm và vận dụng trong nửa đầu thế kỷ XX:

1. Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu

  • Phương pháp so sánh: Đặt các hiện tượng văn học dân tộc trong tương quan đối chiếu với văn học phương Tây và văn học khu vực nhằm nhận diện đặc trưng loại hình và quy luật tiếp biến.
  • Phương pháp trực giác: Đề cao cảm thụ thẩm mỹ chủ quan, dùng rung động tâm hồn và trực cảm tinh tế để phát hiện cái đẹp và cái thần của tác phẩm ngôn từ (thể hiện rõ nét trong phê bình của Hoài Thanh).
  • Phương pháp xã hội học: Tiếp cận văn học như một hiện tượng xã hội, khảo sát tác phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ với môi trường sống, hoàn cảnh xã hội và các giai tầng thị dân đương thời.
  • Phương pháp tiểu sử: Dựa trên ảnh hưởng của trường phái phê bình tiểu sử phương Tây (Sainte-Beuve, Gustave Lanson), đi sâu khai thác cuộc đời, biến cố cá nhân, tính cách và tâm lý tác giả để giải mã nguồn gốc sáng tạo nghệ thuật (tiêu biểu qua các khảo cứu của Trần Thanh Mại).
  • Phương pháp xã hội học mác-xít: Vận dụng thế giới quan duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích văn học dưới lăng kính đấu tranh giai cấp, chức năng xã hội và tính hiện thực (thể hiện qua các tiểu luận của Hải Triều, Đặng Thai Mai).

2. Ngọn nguồn của những đổi mới

  • Những yếu tố nội sinh: Bắt nguồn từ nhu cầu tự thân của nền văn hóa dân tộc trong cuộc chuyển mình thoát khỏi tính quy phạm trung đại; sự xuất hiện của ý thức cá nhân và nhu cầu khẳng định tư duy duy lý, khoa học của tầng lớp trí thức mới.
  • Những yếu tố ngoại nhập: Sự tiếp thu trực tiếp hệ thống tri thức, lý thuyết và phương pháp luận nghiên cứu từ văn hóa Pháp thông qua con đường giáo dục Pháp - Việt, sách báo dịch thuật và sự truyền bá các trào lưu học thuật phương Tây cùng chủ nghĩa Mác.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

Căn cứ vào phần xác lập mục tiêu và đóng góp dự kiến, luận án mang lại những giá trị sau:

  1. Xây dựng bức tranh tổng thể: Tái hiện một cách hệ thống và toàn diện toàn bộ bức tranh hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, làm rõ các chặng đường chuyển biến từ tư duy cổ điển sang tư duy khoa học hiện đại.
  2. Đánh giá thỏa đáng thành tựu và hạn chế: Đánh giá khách quan các thành tựu của công tác nghiên cứu văn học (văn học sử, lý luận, nghiên cứu văn học nước ngoài) cùng những mặt hạn chế lịch sử trong điều kiện thuộc địa nửa phong kiến.
  3. Tổng kết bài học kinh nghiệm về phương pháp: Rút ra các bài học thực tiễn về việc tiếp thu, chọn lọc và vận dụng các phương pháp nghiên cứu văn học phương Tây vào môi trường học thuật dân tộc.
  4. Đóng góp cho việc biên soạn văn học sử: Đưa ra các cứ liệu và góc nhìn bổ khuyết cho việc soạn thảo các bộ lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, xác lập vị trí xứng đáng cho phân môn nghiên cứu văn học bên cạnh lịch sử sáng tác.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đề xuất vận dụng các bài học kinh nghiệm từ quá trình hiện đại hóa giai đoạn 1900 - 1945 vào công cuộc hiện đại hóa và đổi mới học thuật văn học hiện nay.
  • Sử dụng kết quả nghiên cứu của luận án làm tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên đề về lịch sử học thuật văn học Việt Nam tại các trường đại học, viện nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Theo giới hạn phạm vi đề tài, luận án chỉ tập trung vào các yếu tố nổi trội và các tác phẩm tiêu biểu nhất của các tác giả có đóng góp cụ thể về đổi mới lý thuyết và phương pháp, không thể bao quát toàn bộ mọi ấn phẩm, tác gia và hiện tượng nghiên cứu xuất hiện trong giai đoạn 1900 - 1945.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình vận động của hoạt động nghiên cứu văn học ở các giai đoạn tiếp theo sau năm 1945; tiến hành các chuyên khảo sâu hơn về từng trường phái lý luận (như trường phái xã hội học mác-xít hoặc phê bình tiểu sử) hoặc khảo sát đối sánh với tiến trình hiện đại hóa nghiên cứu văn học tại các quốc gia trong khu vực.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu xác thực và khung phân tích lịch sử loại hình để phục vụ giảng dạy môn Lịch sử văn học Việt Nam, Lịch sử phê bình văn học và Phương pháp luận nghiên cứu văn học.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh: Cung cấp phương pháp tiếp cận văn bản học lịch sử, cách xử lý tư liệu báo chí thời kỳ 1900 - 1945 và kỹ thuật phân tích sự biến đổi của các phạm trù lý luận.
  • Các nhà biên soạn giáo trình, văn học sử: Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện các chương mục tổng kết hoạt động lý luận, biên khảo và nghiên cứu văn học trong các bộ thông sử văn học Việt Nam thế kỷ XX.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt hoạt động "phê bình văn học" và "nghiên cứu văn học" dựa trên các tiêu chí nào?

Luận án căn cứ vào định nghĩa từ Từ điển thuật ngữ văn học và Từ điển văn học (2004) để chỉ ra sự khác biệt: phê bình văn học mang tính thời sự, trực tiếp đánh giá khen chê các tác phẩm đương thời phục vụ công chúng tức thì; trong khi đó, nghiên cứu văn học là quá trình xem xét, tìm hiểu, đánh giá một cách hệ thống, toàn diện các tác gia, tác phẩm, hiện tượng văn học quá khứ hoặc đương thời đã có độ lùi thời gian nhất định nhằm phát hiện bản chất và quy luật vận động nội tại.

2. Những tiền đề lịch sử - xã hội và kinh tế chủ yếu nào đã thúc đẩy sự chuyển biến của nghiên cứu văn học giai đoạn 1900 - 1945?

Đó là sự hoàn thành công cuộc bình định quân sự của thực dân Pháp sau năm 1896, dẫn đến việc thiết lập thể chế thực dân nửa phong kiến và đẩy mạnh khai thác thuộc địa (vốn đầu tư 1924 - 1929 đạt khoảng 4 tỷ phrăng; mở mang khai thác mỏ than Hòn Gai, mạng lưới đường sắt, đường bộ, hải cảng). Quá trình này làm phân hóa xã hội, hình thành các đô thị mới, tầng lớp tư sản, công nhân và đặc biệt là tầng lớp tiểu tư sản trí thức thành thị, tạo ra môi trường cho nghề viết văn, làm báo chuyên nghiệp ra đời.

3. Vai trò của chữ quốc ngữ và hệ thống giáo dục Pháp - Việt đối với quá trình hiện đại hóa nghiên cứu văn học được luận án đánh giá ra sao?

Chữ quốc ngữ La-tinh (được phổ biến qua các quy định hành chính của Pháp và sự cổ động của phong trào Đông Kinh nghĩa thục, Duy tân) đã trở thành công cụ diễn đạt tư duy khoa học chính xác, thay thế chữ Hán và chữ Nôm. Hệ thống giáo dục Pháp - Việt (3 bậc 13 năm, bãi bỏ hoàn toàn khoa cử Nho học vào năm 1919) đã đào tạo nên đội ngũ trí thức Tây học tiếp thu trực tiếp các tri thức khoa học phương Tây và phương pháp nghiên cứu lịch sử - so sánh thông qua sách giáo khoa của Gustave Lanson.

4. Luận án đã xác định những phương pháp nghiên cứu văn học chủ yếu nào được vận dụng trong giai đoạn này?

Luận án chỉ ra 5 phương pháp nghiên cứu chính được du nhập và vận dụng: phương pháp so sánh, phương pháp trực giác, phương pháp xã hội học, phương pháp tiểu sử (ảnh hưởng trường phái Sainte-Beuve, Lanson) và phương pháp xã hội học mác-xít (gắn liền với quan điểm duy vật biện chứng và đấu tranh giai cấp).


Kết luận

Luận án Quá trình hiện đại hóa hoạt động nghiên cứu văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của Dương Thu Thủy là công trình khoa học chuyên biệt tổng kết toàn diện tiến trình chuyển đổi của học thuật văn học nước nhà trong giai đoạn 1900 - 1945. Bằng phương pháp nghiên cứu văn học sử kết hợp hệ thống loại hình, tác giả đã làm rõ các tiền đề lịch sử, xã hội, giáo dục, dịch thuật cùng các chặng đường phát triển và sự đổi mới căn bản trong hệ thống phương pháp nghiên cứu. Công trình khẳng định nghiên cứu văn học đã thoát khỏi tính quy phạm trung đại để xác lập tính chất hiện đại, khoa học, đóng góp quan trọng vào bức tranh chung của văn học dân tộc và cung cấp nguồn tư liệu tham khảo có giá trị cho công tác giảng dạy, nghiên cứu văn học sử Việt Nam.