Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình đô thị hoá ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 đến 1996 (Trường hợp các quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thủy thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số: 5.05.15), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Hữu Phước và TS. Hà Minh Hồng, hoàn thành năm 2004.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ thực tiễn phát triển của hệ thống đô thị Việt Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng sau ngày đất nước thống nhất, đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới (1986) trở đi. Bên cạnh những biến đổi tích cực về mở rộng không gian, diện mạo phố phường, hiện đại hóa hạ tầng và biến đổi lối sống, thực tiễn đô thị hóa tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng bộc lộ những nhược điểm thuộc "hội chứng đô thị" như sự phát triển thiếu bền vững, suy giảm chất lượng môi trường sống. Thực trạng này diễn ra rõ nét tại khu vực vành đai xung quanh nội thành, tiêu biểu là Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình và Gò Vấp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ rõ: Trong chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, giới nghiên cứu lâu nay tập trung chủ yếu vào lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, lịch sử chính trị, lịch sử ngoại giao, trong khi phân ngành lịch sử đô thị hóa (history of urbanization) chưa được nghiên cứu tương xứng. Mặt khác, việc nghiên cứu còn nhằm cung cấp luận cứ lịch sử thực hiện Quyết định số 123/1998/QĐ-TTg ngày 10-7-1998 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh quy hoạch chung Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 nhằm khắc phục những bất hợp lý trong cấu trúc đô thị do lịch sử để lại.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án bao gồm:

  1. Dựng lại bức tranh tổng thể quá trình đô thị hóa tại Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp trong hơn 20 năm sau ngày giải phóng (1975–1996).
  2. Làm rõ các nhân tố khách quan và chủ quan tác động, chi phối diện mạo đô thị hóa tại các địa bàn này.
  3. Đúc kết thành tựu, chỉ ra những hạn chế, tồn tại và rút ra bài học kinh nghiệm từ góc độ khoa học lịch sử nhằm đóng góp vào sự phát triển lâu dài, bền vững của các quận và thành phố.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình đô thị hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát cụ thể qua 4 địa bàn: Quận 8, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình và Quận Gò Vấp.
  • Phạm vi không gian: Không gian chỉnh thể của 4 quận ven nội thành Thành phố Hồ Chí Minh. Luận án không nghiên cứu dàn trải toàn bộ các huyện ngoại thành mà định vị 4 quận này như một khu vực chịu tác động mạnh mẽ nhất của đô thị hóa và có các điều kiện lịch sử - địa lý tương đối đồng nhất.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1996. Mốc năm 1975 đánh dấu thời điểm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và bắt đầu thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mốc năm 1996 đánh dấu 10 năm thực hiện đường lối Đổi mới, thời điểm Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ VI, kết thúc nhiệm kỳ V và mở ra giai đoạn phát triển mới.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân tích theo từng nhóm công trình trong và ngoài nước:

Nhóm các công trình lý luận và quy hoạch tổng thể đô thị:

  • Đàm Trung Phượng (1995), Đô thị Việt Nam (2 tập), đánh giá thực trạng mạng lưới đô thị và định hướng phát triển vĩ mô, trung mô.
  • Nguyễn Thế Bá chủ biên (1997), Quy hoạch xây dựng phát triển đô thị (Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội, Nxb Xây dựng), xác lập các nguyên lý thiết kế và quy hoạch kỹ thuật đô thị.
  • Đặng Thái Hoàng (1996), Quy hoạch đô thị cổ đại và trung đại thế giới (Nxb Xây dựng).
  • Nguyễn Xuân Trục (1997), Quy hoạch giao thông vận tải và thiết kế đường đô thị (Nxb Giáo dục).
  • Phạm Ngọc Đăng (2000), Quản lý môi trường đô thị và khu công nghiệp (Nxb Xây dựng).
  • Nguyễn Thị Thanh Thủy (1997), Tổ chức và quản lý môi trường cảnh quan đô thị (Nxb Xây dựng).

Nhóm công trình kinh tế, chính trị và xã hội đô thị:

  • Võ Văn Kiệt (1981), Mấy vấn đề của một thành phố trung tâm công nghiệp (Nxb TP. Hồ Chí Minh).
  • Văn Tạo chủ biên (1985), Đô thị cổ Việt Nam (Viện Sử học).
  • Nguyễn Văn Linh (1986), Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm (1975 – 1985) (Nxb Sự thật).
  • Lê Như Hoa (1993), Lối sống trong đời sống đô thị hiện nay (Hà Nội).
  • Phạm Văn Trình (1996), Dân số và nhà ở đô thị Việt Nam (Nxb TP. Hồ Chí Minh).
  • Trần Ngọc Hiên, Trần Văn Chữ đồng chủ biên (1998), Đô thị hoá và chính sách phát triển đô thị trong công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia).
  • Nguyễn Văn Tài với hai công trình: Những mặt tồn tại trong quá trình đô thị hoá ở TP. Hồ Chí Minh (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1995) và Di dân tự do nông thôn thành thị ở TP. Hồ Chí Minh (Nxb Nông nghiệp, 1998).
  • Mạc Đường (2003), Dân tộc học – Đô thị và vấn đề đô thị hoá (Nxb Trẻ).
  • Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên với Văn hoá làng xã trước sự thách thức của đô thị hoá tại thành phố Hồ Chí Minh và Làng nghề thủ công truyền thống (Nxb Trẻ, 2002).
  • Võ Văn Sen (1995), Sự phát triển của Chủ nghĩa Tư bản trong nền kinh tế miền Nam Việt Nam (1954 – 1975).
  • Hà Minh Hồng (2000), Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 – 1972).

Nhóm kỷ yếu hội thảo và các nghiên cứu trực tiếp về địa bàn ven nội Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Các kỳ Hội nghị toàn quốc về đô thị: Lần thứ nhất (Hà Nội, 1990), lần thứ hai (TP. Hồ Chí Minh, 1995), lần thứ ba (Vũng Tàu, 1999); Hội thảo của Hiệp hội Đô thị Việt Nam tại Quy Nhơn (1996).
  • Các hội thảo quốc tế do Trung tâm Nghiên cứu Đông Nam Á - Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh tổ chức: Đô thị hoá tại Việt Nam và Đông Nam Á (1995), Môi trường nhân văn và đô thị hoá tại Việt Nam, Đông Nam Á và Nhật Bản (1997), Hội thảo quốc tế về phát triển đô thị bền vững - vai trò của nghiên cứu và giáo dục (1999).
  • Lê Hồng Liêm với các công trình tiêu biểu: Bài viết trong Ngoại thành TP. Hồ Chí Minh những vấn đề lịch sử và truyền thống (Nxb Trẻ, 1994); luận án tiến sĩ sử học Sự chuyển biến kinh tế xã hội của các quận ven đô TP. Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến năm 1993 (nhìn từ quận Gò Vấp) (Trường Đại học Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 1995); bài viết trong Đô thị hoá tại Việt Nam và Đông Nam Á (Nxb TP. Hồ Chí Minh, 1996). Tác giả phân chia cấu trúc thành phố đầu thập niên 1990 thành 3 loại hình: quận nội thành, quận ven đô (bán thôn bán thị) và huyện ngoại thành mang tính chất nông nghiệp.

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa kết quả của các công trình đi trước, đồng thời giải quyết khoảng trống học thuật khi là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận trực tiếp, toàn diện quá trình đô thị hóa tại cụm 4 quận ven nội (Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp) trong giai đoạn 1975–1996 dưới góc độ khoa học lịch sử.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án làm rõ các khái niệm, quy định pháp lý và phân kỳ lý thuyết:

  • Khái niệm đô thị: Căn cứ văn bản pháp lý là Quyết định số 132/HĐBT ngày 05-05-1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định 4 tiêu chí xác định đô thị: (1) Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành; (2) Quy mô dân số nhỏ nhất từ 4.000 người trở lên; (3) Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đạt tối thiểu 60%; (4) Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công trình công cộng thích hợp. Hệ thống đô thị Việt Nam được phân thành 5 loại (Loại I đến Loại V) căn cứ theo vai trò chức năng, quy mô dân số và tỷ lệ lao động phi nông nghiệp nội thị. Bên cạnh đó, khái niệm "thị tứ" được xác lập theo Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-01-1998 của Thủ tướng Chính phủ là điểm trung tâm kinh tế, văn hóa của xã/cụm xã nhằm thúc đẩy đô thị hóa nông thôn.
  • Khái niệm đô thị hóa: Luận án tổng hợp các định nghĩa từ Bách khoa toàn thư Hoa Kỳ (The American Encyclopaedic), các nhà nghiên cứu Đàm Trung Phượng, Cao Xuân Phổ, Nguyễn Thế Bá, Lê Hữu Ái, Karl Marx. Bản chất đô thị hóa là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế (từ Sector I sang Sector II và Sector III), chuyển dịch lao động, phân bố lại dân cư, mở rộng không gian và chuyển đổi lối sống nông thôn sang lối sống thành thị. Luận án phân biệt rõ đô thị hóa với công nghiệp hóa - hiện đại hóa: đô thị hóa gắn liền với việc hình thành không gian nhân văn, chuyển đổi lối sống và kéo theo các vấn đề xã hội - môi trường, không đơn thuần là quá trình hiện đại hóa máy móc hay tăng năng suất lao động.
  • Phân kỳ lịch sử đô thị hóa: Tiến trình đô thị hóa Việt Nam được phân thành 4 thời kỳ:
    1. Thời kỳ sơ khởi hình thành đô thị (từ kinh đô thời Hùng Vương vùng Phong Châu - Việt Trì, thành Cổ Loa đến hết thời Bắc thuộc).
    2. Thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ (từ mốc Ngô Quyền năm 938, Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long năm 1010 đến kinh đô Huế thời Nguyễn thế kỷ XIX).
    3. Thời kỳ Pháp thuộc.
    4. Thời kỳ từ Cách mạng Tháng Tám 1945 đến nay: gồm giai đoạn 1945–1975 (miền Bắc xây dựng đô thị xã hội chủ nghĩa dựa trên công nghiệp hóa tập trung, công hữu hóa đất đai; miền Nam chịu tác động của viện trợ Mỹ và chiến tranh, hình thành dạng "đô thị hóa cưỡng bức" - forced urbanization) và giai đoạn 1975 đến nay (đô thị hóa trong điều kiện cả nước thống nhất, quá độ lên chủ nghĩa xã hội và thực hiện Đổi mới).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp luận: Luận án vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin cùng tư tưởng Hồ Chí Minh.
  • Phương pháp cụ thể: Phương pháp lịch sử là phương pháp chủ đạo để tái hiện tiến trình cụ thể của đô thị hóa tại 4 quận từ 1975 đến 1996; kết hợp phương pháp lô-gíc nhằm làm sáng tỏ bản chất, quy luật vận động trong bối cảnh lịch sử của thành phố và cả nước. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp với kinh tế học, xã hội học, đô thị học và thống kê học.
  • Nguồn tư liệu:
    1. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc và Văn kiện các kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Đại hội Đảng bộ Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp.
    2. Văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Xây dựng và UBND Thành phố Hồ Chí Minh về quy hoạch, chỉnh trang đô thị.
    3. Báo cáo tổng kết hành chính của UBND 4 quận và các sở ban ngành liên quan.
    4. Niên giám thống kê của Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Thống kê 4 quận từ 1975 đến 2000.
    5. Tài liệu khảo sát thực địa, điền dã của tác giả.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về đô thị hoá và quá trình đô thị hoá ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp trước 1975

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về đô thị hóa và phân tích vị trí không gian địa lý cùng tiến trình lịch sử của 4 quận trước năm 1975.

Về vị trí không gian:

  • Năm 1996, Thành phố Hồ Chí Minh gồm 12 quận và 6 huyện ngoại thành, diện tích 2.056,5 $\text{km}^2$, dân số 4.596.000 người.
  • Theo Quyết định số 778/QĐUB-QLĐT ngày 10-02-1995 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 123/1998/QĐ-TTg ngày 10-07-1998 của Thủ tướng Chính phủ, 4 quận khảo sát có tính chất chức năng rõ rệt: Quận Tân Bình và Bình Thạnh là quận ven nội thành; Quận Gò Vấp là quận nội thành có chức năng dân dụng; Quận 8 là cửa ngõ phía Tây Nam kết nối với vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Long An, Tiền Giang). Về mặt hành chính, đây là các quận nội thành nhưng về thực trạng kinh tế - xã hội thời kỳ 1975–1996, 4 địa bàn này đóng vai trò vùng "ven nội", vùng đệm tiếp giáp ngoại thành.

Quá trình đô thị hóa tại Sài Gòn - Gia Định và 4 địa bàn trước năm 1975:

  • Đô thị Sài Gòn hình thành từ mốc năm 1698 khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định, xây dựng thành Gia Định năm 1790 và phát triển dưới thời Pháp thuộc. Giai đoạn 1954–1975, quá trình đô thị hóa tại miền Nam diễn ra nhanh nhưng mang tính chất "đô thị hóa cưỡng bức" do chiến tranh, khiến khoảng 10 triệu người di cư từ nông thôn vào đô thị.
Năm Diện tích Sài Gòn ($\text{km}^2$) Dân số Sài Gòn (nghìn người) Diện tích Gia Định ($\text{km}^2$) Dân số Gia Định (nghìn người)
1956 51 1.263 679 522
1970 62 1.760 814 1.414

Nguồn: Bộ Nội vụ và Viện Quốc gia Thống kê (Việt Nam Cộng hòa)

Đặc điểm 4 quận trước 1975:

  • Quận 8: Trước 1975 gồm Quận 7 và Quận 8 cũ. Tỷ lệ dân số người Hoa chiếm 20%, có 3.158 hộ tiểu thương và hơn 2.300 cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp quy mô nhỏ (dệt, may, cơ khí, chế biến thực phẩm). Đất nông nghiệp chiếm 858 ha, nhưng có đến 2/3 diện tích bị hoang hóa do bom đạn chiến tranh. Cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí thấp, tập trung nhiều tệ nạn xã hội.
  • Quận Tân Bình: Trước Cách mạng Tháng Tám 1945 là tổng Dương Hòa Thượng thuộc huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Địa bàn có sân bay Tân Sơn Nhất (diện tích ban đầu 13,98 $\text{km}^2$, năm 1991 điều chỉnh còn 8,774 $\text{km}^2$) và trục Quốc lộ 22. Năm 1976, sau khi tách xã Phú Nhuận lập Quận Phú Nhuận và chuyển xã Bình Hưng Hòa, Vĩnh Lộc về huyện Bình Chánh, Tân Bình có diện tích 38,32 $\text{km}^2$ (chiếm 27,3% diện tích nội thành). Hạ tầng cơ bản vẫn mang đậm tính chất nông thôn.
  • Quận Bình Thạnh: Hình thành từ hai xã Bình Hòa và Thạnh Mỹ Tây thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Nông nghiệp là ngành chủ đạo đến năm 1954. Giai đoạn 1974–1975 có 1.935 cơ sở tiểu thủ công nghiệp tập trung ở khu vực Thị Nghè và Bà Chiểu, nhưng khi giải phóng có 204 cơ sở ngừng hoạt động.
  • Quận Gò Vấp: Năm 1972 thuộc tỉnh Gia Định với diện tích 67,9 $\text{km}^2$, dân số 402.187 người. Năm 1976 điều chỉnh thành quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh gồm 3 xã (Hanh Thông, An Nhơn, Thông Tây Hội) chia thành 17 phường, sau đó năm 1984 sắp xếp lại thành 12 phường. Trước 1975 là vùng nông thôn bị quân sự hóa, kinh tế phụ thuộc vào làm thuê và dịch vụ phục vụ căn cứ quân sự, toàn quận chỉ có 32 km đường trải nhựa, hạ tầng kỹ thuật và phúc lợi công cộng thiếu thốn.

Chương 2: Chuyển biến về cơ cấu kinh tế và cơ sở hạ tầng ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp trong quá trình đô thị hoá (1975 – 1996)

Chương 2 phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương nghiệp - dịch vụ, cùng sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật trên địa bàn 4 quận.

Quận Diện tích năm 1976 ($\text{km}^2$) Dân số năm 1976 (người) Diện tích năm 1996 ($\text{km}^2$) Dân số năm 1996 (người)
Quận 8 18,8 242.114 18,8 292.114
Tân Bình 38,5 280.904 38,5 380.904
Bình Thạnh 20,56 287.852 20,56 397.852
Gò Vấp 19,2 136.942 19,2 236.942

Nguồn: Niên giám Thống kê của các quận

Các chuyển biến kinh tế - kỹ thuật chính:

  • Sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Tăng nhanh về quy mô và tỷ trọng. Ngay từ Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I (tháng 4-1977), thành phố đã xác định vị thế là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước. Tại các quận ven nội, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được khôi phục, tổ chức lại theo hướng kinh tế quốc doanh và hợp tác xã giai đoạn 1975–1985, sau đó phát triển mạnh cơ cấu nhiều thành phần sau Đổi mới 1986.
  • Thương nghiệp – dịch vụ: Phát triển nhanh chóng, đặc biệt trong thời kỳ Đổi mới. Mạng lưới chợ truyền thống, cửa hàng dịch vụ thương mại mở rộng, đảm nhận vai trò lưu thông hàng hóa giữa khu vực nội thành trung tâm với các tỉnh lân cận.
  • Nông nghiệp: Diện tích canh tác và tỷ trọng sản lượng giảm dần trong giai đoạn 1975–1985 và suy giảm nhanh chóng từ sau năm 1986 do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang xây dựng công nghiệp, nhà ở và dịch vụ đô thị.
  • Cơ sở hạ tầng: Mạng lưới giao thông đường bộ, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện và nhà ở dân cư phát triển nhanh nhằm đáp ứng yêu cầu gia tăng dân số, song tình trạng thiếu đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật quá tải và ô nhiễm môi trường vẫn là những thách thức tồn tại lớn.

Chương 3: Chuyển biến về dân cư và đời sống cư dân ở quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp trong quá trình đô thị hoá (1975 – 1996)

Chương 3 khảo sát các khía cạnh dân số học và xã hội học lịch sử:

  • Sự gia tăng dân số và chuyển dịch cơ cấu dân cư: Dân số tăng nhanh do cả tỷ lệ tăng tự nhiên và sự gia tăng cơ học (di dân từ các địa phương khác đến làm ăn, sinh sống sau giải phóng và trong thời kỳ mở cửa kinh tế). Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tăng cao, thay đổi căn bản cơ cấu việc làm tại các vùng trước đây vốn là làng xã nông nghiệp.
  • Chuyển biến trong đời sống vật chất: Thu nhập, mức sống, điều kiện nhà ở và tiện nghi sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân từng bước được cải thiện so với giai đoạn trước năm 1975 và thời kỳ bao cấp khó khăn.
  • Chuyển biến về đời sống văn hóa tinh thần và giáo dục: Hệ thống trường lớp, chất lượng giáo dục được củng cố; các thiết chế văn hóa phục vụ cộng đồng được xây dựng. Lối sống đô thị từng bước hình thành và thay thế lối sống làng xã truyền thống.
  • Sự phân hóa giàu nghèo và các vấn đề xã hội: Quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh mang tính tự phát đã làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo, nảy sinh sức ép về nhà ở tạm bợ, thiếu hụt dịch vụ công cộng và các tệ nạn xã hội cần giải quyết.

Kết quả và những đóng góp mới

Các kết quả và đóng góp mới của luận án được tác giả tự xác định:

  1. Về khoa học lịch sử: Luận án là một trong những công trình tiên phong nghiên cứu lịch sử đô thị hóa tại các quận ven nội thành Thành phố Hồ Chí Minh; tái hiện bức tranh tổng thể, khách quan về quá trình biến đổi kinh tế, hạ tầng, dân cư và lối sống tại Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp trong hơn 20 năm sau ngày giải phóng (1975–1996).
  2. Về phương diện lý luận và thực tiễn: Làm rõ hệ thống nhân tố chủ quan (đường lối của Đảng, chính sách quản lý đô thị của Nhà nước và thành phố qua hai giai đoạn trước và sau Đổi mới) cùng nhân tố khách quan (vị trí địa lý, quy luật phát triển kinh tế) tác động đến diện mạo đô thị hóa tại địa bàn khảo sát.
  3. Về mặt ứng dụng: Rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử và đề xuất một số giải pháp bước đầu nhằm phát huy yếu tố tích cực, hạn chế tiêu cực, phục vụ định hướng phát triển đô thị bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh theo đồ án quy hoạch tổng thể đến năm 2020.
  4. Về mặt tư liệu: Tập hợp, xử lý và hệ thống hóa khối lượng lớn tư liệu lưu trữ, báo cáo hành chính và số liệu thống kê địa phương từ năm 1975 đến năm 2000 vốn nằm tản mát tại các quận.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi 4 quận ven nội (Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp) mà chưa mở rộng nghiên cứu sang toàn bộ 6 huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Góc độ tiếp cận thuần túy là khoa học lịch sử nên luận án không đi sâu giải quyết các bài toán kỹ thuật chuyên sâu về kiến trúc, thiết kế hạ tầng hay các mô hình lượng hóa kinh tế - xã hội học đô thị.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu quá trình đô thị hóa tại các huyện ngoại thành của thành phố khi chuyển đổi thành các quận đô thị hóa mới sau năm 1997 (như Quận 2, Quận 7, Quận 9, Quận 12 và Quận Thủ Đức); đồng thời theo dõi tiến trình phát triển đô thị bền vững trong các giai đoạn tiếp theo sau năm 1996.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Nam Bộ, cũng như các ngành Đô thị học, Xã hội học và Kinh tế phát triển.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu lịch sử và các bài học kinh nghiệm thực tiễn cho chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Viện Quy hoạch Xây dựng và UBND các quận trong công tác điều chỉnh quy hoạch, phân bổ hạ tầng và quản lý xã hội đô thị.

Câu hỏi thường gặp

1. Bốn quận nghiên cứu được định vị như thế nào trong không gian Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1975–1996?
Theo các văn bản quy hoạch và giới thiệu hành chính (Quyết định 778/QĐUB-QLĐT năm 1995, Quyết định 123/1998/QĐ-TTg năm 1998), Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp về mặt hành chính là các quận nội thành nhưng về mặt không gian và kinh tế - xã hội thời kỳ này mang tính chất vùng "ven nội", đóng vai trò vành đai chuyển tiếp bao quanh trung tâm thành phố và là các cửa ngõ giao thông trọng yếu kết nối với các tỉnh miền Đông và Tây Nam Bộ.

2. Luận án chỉ ra đặc điểm bản chất của đô thị hóa tại Sài Gòn và các quận nghiên cứu trước năm 1975 là gì?
Quá trình đô thị hóa tại Sài Gòn - Gia Định thời kỳ 1954–1975 về cơ bản là "đô thị hóa cưỡng bức" (forced urbanization) do chiến tranh và viện trợ Mỹ thúc đẩy, khiến khoảng 10 triệu người di cư tị nạn từ nông thôn đổ về đô thị. Đô thị hóa mang tính dịch vụ phục vụ chiến tranh hơn là bắt nguồn từ sự phát triển tự thân của lực lượng sản xuất công nghiệp và kinh tế.

3. Tiến trình đô thị hóa tại 4 quận giai đoạn 1975–1996 được phân kỳ theo những mốc lịch sử nào?
Luận án phân kỳ tiến trình nghiên cứu thành hai giai đoạn lịch sử rõ rệt: 10 năm trước Đổi mới (1975–1985) - thời kỳ vừa khắc phục hậu quả chiến tranh vừa xây dựng cơ chế quản lý tập trung bao cấp; và 10 năm thực hiện Đổi mới (1986–1996) - thời kỳ kinh tế nhiều thành phần vận hành, đẩy mạnh tốc độ đô thị hóa và mở rộng không gian.

4. Luận án căn cứ vào văn bản pháp lý nào của Nhà nước để xác định tiêu chí đô thị?
Luận án căn cứ vào Quyết định số 132/HĐBT ngày 05-05-1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định 4 tiêu chí của điểm dân cư đô thị (vai trò trung tâm, quy mô dân số từ 4.000 người, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp $\ge 60%$, cơ sở hạ tầng thích hợp) và phân loại đô thị thành 5 loại; kết hợp Quyết định số 10/1998/QĐ-TTg ngày 23-01-1998 của Thủ tướng Chính phủ về quy hoạch đô thị và thị tứ.

5. Nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng để tái hiện bức tranh đô thị hóa trong luận án là gì?
Nguồn tư liệu bao gồm văn kiện Đại hội Đảng các cấp, văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và UBND Thành phố Hồ Chí Minh, báo cáo hành chính của 4 quận, Niên giám Thống kê thành phố và các quận từ 1975 đến 2000, các công trình khảo cứu chuyên đề và tư liệu điền dã thực tế của tác giả.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thủy là công trình khoa học chuyên khảo phục dựng bức tranh lịch sử quá trình đô thị hóa tại 4 quận ven nội Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 8, Bình Thạnh, Tân Bình, Gò Vấp) trong giai đoạn 1975–1996. Thông qua việc phân tích sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự biến đổi hạ tầng kỹ thuật và những chuyển biến trong cơ cấu dân cư, đời sống văn hóa xã hội, công trình đã làm rõ tính quy luật và những đặc thù lịch sử của đô thị hóa thời kỳ đầu thống nhất và bước vào Đổi mới. Kết quả nghiên cứu đóng góp nguồn tư liệu hệ thống và bài học kinh nghiệm thực tiễn phục vụ định hướng phát triển đô thị bền vững cho Thành phố Hồ Chí Minh.