Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Hoàn thiện phương pháp tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam" được tác giả Chu Thị Bích Ngọc thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thuộc chuyên ngành Kinh tế học (Thống kê kinh tế), mã số 62.01, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Bùi Đức Triệu và TS. Phan Công Nghĩa (Hà Nội, năm 2014).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA - System of National Accounts) do Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế ban hành, với nền tảng từ công trình của Richard Stone (giải Nobel Kinh tế năm 1984), là hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chuẩn mực dùng để đo lường, phân tích các hiện tượng kinh tế cơ bản và phục vụ hoạch định chính sách. Tại Việt Nam, theo Quyết định số 183-TTg ngày 25/12/1992 của Thủ tướng Chính phủ, SNA được chính thức thống nhất áp dụng trên phạm vi cả nước từ đầu năm 1993 nhằm thay thế cho Hệ thống các bảng cân đối vật chất (MPS - Material Product Balance System).

Quá trình triển khai SNA tại Việt Nam nảy sinh những bất cập thực tiễn:

  • Một số chỉ tiêu tổng hợp tính toán ở phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (GRDP) chưa thực sự ăn khớp với chỉ tiêu tổng sản phẩm trong nước (GDP) của cả nước.
  • Nguồn thông tin và phương pháp biên soạn các biểu mẫu báo cáo thống kê chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản lý, điều hành.
  • Ngành Vận tải là ngành kinh tế cấp I (H: Vận tải kho bãi), đóng vai trò mạch máu lưu thông vật chất và hành khách trong nền kinh tế. Tuy nhiên, phương pháp thu thập số liệu, tính toán và phân tích chỉ tiêu Giá trị gia tăng (VA) ngành Vận tải còn nhiều điểm hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến độ tin cậy của chỉ tiêu GDP cả nước. Cho đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, chưa có công trình chuyên sâu nào hoàn thiện đồng bộ phương pháp tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải trên phạm vi cả nước theo các ngành đường.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định mục tiêu tổng quát là hoàn thiện phương pháp tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam, bao gồm 6 mục tiêu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Làm rõ phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải theo Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA).
  2. Đánh giá phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải hiện đang áp dụng tại Việt Nam.
  3. Hoàn thiện phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam.
  4. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam.
  5. Nghiên cứu thực trạng và đề xuất hoàn thiện hệ thống thông tin thống kê phục vụ tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam.
  6. Thử nghiệm tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2008–2012.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Phương pháp tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu về nội dung và không gian: Tập trung vào phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam do Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia thuộc Tổng cục Thống kê thực hiện theo các ngành đường trên phạm vi cả nước (Vận tải Đường sắt, Vận tải Hàng không, Vận tải Đường bộ, Vận tải Đường thủy) theo phương pháp sản xuất; hoàn thiện phân tích VA và hệ thống nguồn tin thống kê tương ứng.
  • Phạm vi nghiên cứu về thời gian thực nghiệm: Thử nghiệm tính toán và phân tích biến động chỉ tiêu giá trị gia tăng đối với ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam trong giai đoạn 2008–2012.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các công trình, bài báo và đề tài nghiên cứu liên quan trực tiếp đến việc tính toán giá trị sản xuất (GO) và giá trị gia tăng (VA) ở Việt Nam:

  1. ThS. Nguyễn Bích Lâm (2005), bài viết "Một số suy nghĩ về phương pháp tính chỉ tiêu giá trị sản xuất trong chế độ báo cáo tài khoản quốc gia" (Tạp chí Thông tin Khoa học Thống kê, số 2/2005, tr. 16): Nêu ra những tồn tại của việc tính chỉ tiêu giá trị sản xuất theo giá sản xuất, chứng minh tính ưu việt khi tính theo giá cơ bản, nhưng chưa đưa ra phương pháp xác định giá trị sản xuất theo giá cơ bản cho từng ngành kinh tế cụ thể.
  2. ThS. Nguyễn Bích Lâm (2006), bài viết "Khả năng áp dụng giá cơ bản trong tính toán chỉ tiêu giá trị sản xuất" (Thông tin Khoa học Thống kê, số 2/2006): Khẳng định tính khả thi của việc chuyển đổi phương pháp tính giá trị sản xuất sang giá cơ bản nhằm loại trừ ảnh hưởng của thuế sản phẩm, nhưng chưa đề cập phương pháp tính toán riêng cho ngành Vận tải.
  3. Nguyễn Văn Minh (2007), bài viết "Phương pháp tính giá trị sản xuất, giá trị tăng thêm về giá so sánh năm 2005 theo hệ thống chỉ số giá" (Thông tin Khoa học Thống kê, số 5 và 6/2007): Trình bày nguyên tắc chung dùng chỉ số giá sản xuất (PPI) và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) để tính GO và VA theo giá so sánh năm 2005, quy ước tỷ lệ chi phí trung gian theo giá thực tế, song chưa làm rõ phương pháp tính VA cho từng ngành và chưa khắc phục các vướng mắc nguồn tin thu thập chỉ số giá.
  4. CN. Dương Tiến Bích (2002), đề tài khoa học cấp cơ sở mã số 14CS2002 của Vụ Xây dựng - Giao thông - Bưu điện (Tổng cục Thống kê): "Nghiên cứu ứng dụng phương pháp tính giá trị sản xuất ngành Vận tải theo giá hiện hành ở Việt Nam": Đề xuất phương pháp tính GO ngành Vận tải dựa trên chuẩn quốc tế và thu thập số liệu, song chưa phân tích thực trạng cũng như chưa lý giải đầy đủ sự cần thiết phải tính GO vận tải theo giá hiện hành.
  5. ThS. Nguyễn Bích Lâm (Chủ nhiệm, 2005), đề tài cấp Tổng cục Thống kê của Viện Khoa học Thống kê: "Nghiên cứu khả năng tính chỉ tiêu giá trị sản xuất, giá trị gia tăng của các ngành kinh tế theo giá cơ bản": Làm rõ ưu điểm của giá cơ bản, đề xuất phương pháp đánh giá GO và VA theo giá cơ bản nhưng chỉ mới áp dụng thử nghiệm tính chỉ tiêu giá trị sản xuất cho ngành Công nghiệp, chưa thí điểm tính chỉ tiêu giá trị gia tăng và chưa tính đến đặc thù ngành Vận tải.
  6. Đề tài nghiên cứu hệ thống thống kê giao thông vận tải đường bộ tại một số quốc gia (Canada, Indonesia) và Việt Nam: Giới thiệu nguồn thu thập thông tin các chỉ tiêu báo cáo nhanh, chỉ tiêu năm nhưng chưa xây dựng được quy trình thu thập thông tin và phương pháp thống kê chi tiết, khoa học.
  7. CN. Đào Thị Kim Dung (Chủ nhiệm), đề tài cấp Tổng cục Thống kê mã số 2.13-TC7: "Nghiên cứu cải tiến chế độ báo cáo thống kê tổng hợp áp dụng đối với tỉnh, thành phố": Đề xuất nguyên tắc hoàn thiện chế độ báo cáo thống kê cấp tỉnh, nhưng chưa nghiên cứu các biểu mẫu báo cáo áp dụng chi tiết cho từng chuyên ngành và chưa hệ thống hóa quy trình thu thập số liệu vận tải.
  8. Nguyễn Thị Xuân Mai (2010), đề tài mã số 2.1-BO9 của Tổng cục Thống kê: "Xác định các chỉ tiêu cần tính theo giá so sánh và những thông tin cần cài đặt trong điều tra và chế độ báo cáo của Vụ Thống kê Thương mại, Dịch vụ Giá cả để sử dụng năm 2010 làm năm gốc so sánh": Đề cập phương pháp tính doanh thu và GO ngành Vận tải, song chỉ ra hạn chế của điều tra doanh nghiệp khi các đơn vị kinh doanh đa ngành không tách riêng doanh thu theo từng ngành đường.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình trước đây chỉ tiếp cận ở mức độ lý luận chung, tính thử nghiệm cho ngành Công nghiệp hoặc dừng lại ở việc tính giá trị sản xuất theo giá hiện hành/giá so sánh mà chưa đi sâu vào toàn bộ chu trình tính và phân tích chỉ tiêu Giá trị gia tăng (VA). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách:

  • Hệ thống hóa phương pháp luận tính VA ngành Vận tải theo SNA.
  • Hoàn thiện công thức tính toán chỉ tiêu GO, IC và VA ngành Vận tải theo các ngành đường cho cả giá hiện hành và giá so sánh.
  • Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích nhân tố biến động VA.
  • Hoàn thiện hệ thống biểu mẫu thu thập số liệu và kiểm chứng qua dữ liệu thực tế ngành Vận tải Đường sắt giai đoạn 2008–2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích SNA

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) do Liên Hợp Quốc ban hành (các phiên bản SNA 1953, 1968, 1993, 2008).

Các khái niệm cốt lõi:

  • Sản xuất (Production): Là quá trình sử dụng lao động, máy móc thiết bị của các đơn vị thể chế để chuyển chi phí vật chất và dịch vụ thành sản phẩm vật chất và dịch vụ khác có khả năng cung cấp trên thị trường hoặc cho đơn vị khác. SNA tính cả các hoạt động kinh tế ngầm, phi chính thức và bất hợp pháp (tuy nhiên theo quy định của Việt Nam, chỉ tính kết quả của các hoạt động được pháp luật cho phép).
  • Đơn vị thường trú (Resident Unit): Là đơn vị thể chế có trung tâm lợi ích kinh tế trong phạm vi lãnh thổ kinh tế của quốc gia (có địa điểm hoạt động, tiến hành giao dịch từ 1 năm trở lên).
  • Lãnh thổ kinh tế (Economic Territory): Gồm lãnh thổ địa lý do Nhà nước quản lý, vùng trời, thềm lục địa, hải đảo, các cơ quan ngoại giao, căn cứ quân sự và trạm nghiên cứu khoa học ở nước ngoài.
  • Hệ thống phân ngành và phân loại: Sử dụng Hệ thống phân ngành chuẩn quốc tế ISIC-4 (2006) và Phân ngành kinh tế Việt Nam VSIC-2007; Phân loại sản phẩm trung tâm (CPC); Phân tổ theo 5 khu vực thể chế (Khu vực tài chính, Khu vực phi tài chính, Khu vực Nhà nước, Khu vực không vị lợi phục vụ hộ gia đình, Khu vực hộ gia đình).

Phương pháp xác định Giá trị gia tăng (VA):

  1. Phương pháp sản xuất (Production Approach): $$\text{VA} = \text{GO} - \text{IC}$$
    • Trong đó: $\text{GO}$ (Gross Output) là Tổng giá trị sản xuất; $\text{IC}$ (Intermediate Consumption) là Chi phí trung gian.
  2. Phương pháp phân phối (Income/Distribution Approach): $$\text{VA} = \text{Thu nhập lần đầu của người lao động} + \text{Thu nhập lần đầu của doanh nghiệp} + \text{Thuế sản xuất} + \text{Khấu hao tài sản cố định } (C_1)$$

Quy tắc tính giá so sánh:

  • Phương pháp giảm phát hai lần (Double Deflation): $$\text{VA}{ss} = \frac{\text{GO}{hh}}{I_p(\text{GO})} - \frac{\text{IC}_{hh}}{I_p(\text{IC})}$$
  • Phương pháp giảm phát một lần (Single Deflation): $$\text{VA}{ss} = \frac{\text{GO}{hh}}{I_p(\text{GO})} \times (1 - \text{Hệ số IC})$$

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong thống kê kinh tế:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập các văn bản pháp quy (Luật Thống kê 2003, Quyết định 43/2010/QĐ-TTg, Quyết định 183-TTg), các báo cáo tài chính, báo cáo thống kê định kỳ của Tổng cục Thống kê, Tổng công ty Đường sắt Việt Nam, Tổng công ty Hàng không Việt Nam, Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, và Cục Thống kê các tỉnh/thành phố.
  • Phỏng vấn, tham vấn chuyên gia: Lấy ý kiến từ cán bộ Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia, Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ, Vụ Thống kê Giá (Tổng cục Thống kê), chuyên viên Bộ Giao thông Vận tải và cán bộ kế toán - thống kê tại các doanh nghiệp vận tải.
  • Phương pháp phân tích thống kê định lượng: Kỹ thuật bảng biểu, phân tổ thống kê, phân tích chuỗi thời gian, phân tích cơ cấu, phương pháp chỉ số thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp từng phần biến động nhằm lượng hóa ảnh hưởng của các nhân tố hiện vật và nhân tố chi phí đến giá trị gia tăng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải theo Hệ thống Tài khoản quốc gia

Chương này tập trung trình bày cơ sở lý luận về SNA, đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của ngành Vận tải và phương pháp luận tính VA ngành Vận tải:

  • Lịch sử và vai trò của SNA: Khái quát các mốc phát triển từ William Petty (1665), Gregory King (1688), Biểu kinh tế của François Quesnay (1758), mô hình I/O của Wassily Leontief (1941) đến bản SNA 1953 do Richard Stone chủ trì và các bản sửa đổi 1968, 1993, 2008. Trình bày hệ thống các tài khoản kinh tế vĩ mô: Tài khoản sản xuất, Tài khoản phân phối thu nhập, Tài khoản vốn tài chính, Tài khoản quan hệ kinh tế với nước ngoài, Bảng cân đối liên ngành (I/O).
  • Khái niệm và phân loại ngành Vận tải: Tác giả định nghĩa: "Vận tải là hoạt động làm thay đổi vị trí hàng hóa và hành khách trong không gian nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh tế - xã hội". Phân loại vận tải theo phương thức (đường thủy, đường sắt, đường bộ, hàng không, đường ống), theo đối tượng (vận tải hàng hóa: tính bằng Tấn và Tấn.km; vận tải hành khách: tính bằng Lượt khách và Khách.km), theo phạm vi (trong nước, ngoài nước).
  • Nguyên tắc và phương pháp tính VA vận tải theo SNA:
    • Quy định xác định đơn vị thường trú đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổng công ty hạch toán toàn ngành và cơ sở cá thể.
    • Xác định doanh thu cấu thành GO vận tải (doanh thu vận chuyển, bốc xếp, cho thuê phương tiện có người lái, dịch vụ hỗ trợ cảng/bến bãi, hoa tiêu...).
    • Quy định bóc tách chi phí trung gian (IC): Chi phí vật chất (nhiên liệu, phụ tùng, săm lốp...), chi phí dịch vụ mua ngoài (bảo hiểm phương tiện, sửa chữa nhỏ...), bóc tách các khoản không thuộc IC (tiền công bốc vác đưa về thu nhập lao động, bảo hiểm tính mạng cho người lao động).
    • Phương pháp tính theo giá so sánh trực tiếp từ giá cước năm gốc nhân khối lượng hoặc qua phương pháp chỉ số giá.

Chương 2: Hoàn thiện phương pháp tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam hiện nay

Chương này đi sâu vào thực trạng hệ thống thống kê SNA Việt Nam, chỉ ra các hạn chế trong cách tính của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia và đề xuất giải pháp hoàn thiện:

  • Tổ chức bộ máy và mức độ áp dụng SNA tại Việt Nam:

    • Hệ thống cơ quan thống kê hình thành từ Sắc lệnh 61/SL ngày 06/5/1946; tổ chức tập trung theo ngành dọc theo Luật Thống kê 2003 (Tổng cục Thống kê $\rightarrow$ Cục Thống kê cấp tỉnh $\rightarrow$ Phòng Thống kê cấp huyện).
    • So sánh với 5 mức thực hiện SNA theo chuẩn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF):
      • Mức 1: Việt Nam tính được GDP theo giá hiện hành và giá cố định 1994 bằng 2 phương pháp (sản xuất và sử dụng cuối cùng).
      • Mức 2: Đã tính GNI, NNI, NDI, chuyển nhượng hiện hành, tích lũy theo chu kỳ 2 năm một lần cho phạm vi cả nước nhưng chưa công bố định kỳ chính thức.
      • Mức 3: Tính GDP cho 5 khu vực thể chế và dịch vụ nhà nước.
      • Mức 4: Đã lập tài khoản sản xuất, tài khoản thu nhập - chi tiêu, tài khoản quan hệ nước ngoài và tài khoản vốn - tài sản (phần A); chưa lập được tài khoản vốn - tài chính (phần B).
      • Mức 5: Đã lập bảng I/O cho các năm 1989 (54 ngành), 1996 (97 ngành), 2000 (112 ngành), 2007 (138 ngành) và đang xử lý bảng 2012 (dự kiến 168 ngành); lập thử nghiệm bảng nguồn và sử dụng (SUT) năm 2000 và tính chính thức năm 2007 (không công bố).
  • Thực trạng và bất cập trong phương pháp tính VA vận tải của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia:

    • Quy trình thực tế: Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia nhận dữ liệu khối lượng luân chuyển từ Vụ Thống kê Thương mại và Dịch vụ, tính GO giá so sánh bằng cách nhân tỷ lệ luân chuyển với GO gốc (sau khi đã phân bổ giá trị dịch vụ vận tải vào vận tải hàng hóa và hành khách kỳ gốc), sau đó dùng chỉ số giá cước (PPI) do Vụ Thống kê Giá cung cấp để suy ra GO giá hiện hành, rồi áp dụng Hệ số IC cố định để suy ra IC và VA.
    • Bất cập: Phân bổ dịch vụ vận tải kỳ gốc theo tỷ trọng chủ quan; việc sử dụng hệ số IC cố định làm sai lệch chi phí thực tế khi giá nhiên liệu biến động mạnh; thiếu số liệu doanh thu bóc tách cho doanh nghiệp vận tải đa ngành.
  • Đề xuất hoàn thiện phương pháp tính và phân tích:

    • Hoàn thiện công thức tính GO và IC trực tiếp từ dữ liệu báo cáo tài chính và điều tra doanh nghiệp hàng năm, áp dụng giá cơ bản để loại trừ thuế sản phẩm.
    • Xây dựng mô hình phân tích nhân tố biến động VA theo 3 nhóm: Nhóm nhân tố kết quả vận tải hiện vật (khối lượng vận chuyển, cự ly bình quân), nhóm nhân tố chi phí và hiệu quả chi phí (suất tiêu hao chi phí trung gian, tỷ lệ IC/GO), và nhóm nhân tố giá cước.
    • Đề xuất sửa đổi, bổ sung biểu mẫu thu thập số liệu thống kê vận tải, cụ thể là hoàn thiện các chỉ tiêu trong Biểu số 01-CS/VTKB áp dụng cho cơ sở kinh tế cá thể và doanh nghiệp ngoài nhà nước nhằm tách bạch doanh thu từng loại hình đường.

Chương 3: Thử nghiệm tính và phân tích giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2008 – 2012

Tác giả sử dụng chuỗi số liệu thực tế của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam và Tổng cục Thống kê để thực nghiệm tính toán và so sánh:

  • Tính toán thực nghiệm và so sánh kết quả:
    • Tính VA Đường sắt theo phương pháp cũ của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia và theo phương pháp hoàn thiện của tác giả ($VA_1$ và $VA_2$). Kết quả cho thấy sự chênh lệch đáng kể giữa hai phương pháp do phương pháp hoàn thiện bóc tách đúng chi phí trung gian thực tế và các khoản thuế phát sinh.
  • Phân tích cơ cấu và biến động thị phần ngành Vận tải Đường sắt:
    • Cơ cấu VA Đường sắt theo các yếu tố phân phối: Chi phí nhân công (thu nhập người lao động) chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp theo là khấu hao tài sản cố định ($C_1$), thặng dư sản xuất và thuế sản xuất.
    • Phân tích thị phần: Vận tải Đường sắt chiếm thị phần rất khiêm tốn trong tổng thể các ngành đường Việt Nam giai đoạn 2008–2012 (dưới 2% về khối lượng vận chuyển hàng hóa và dưới 1.5% về khối lượng vận chuyển hành khách), trong khi vận tải đường bộ chiếm ưu thế tuyệt đối.
  • Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến VA Đường sắt:
    • Sử dụng phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp phân tích tổng hợp từng phần biến động để lượng hóa ảnh hưởng của 3 nhân tố: Khối lượng luân chuyển (T.km, Khách.km), Doanh thu bình quân trên một đơn vị luân chuyển (giá cước thực tế) và Tỷ suất giá trị gia tăng trên doanh thu ($VA/GO$). Kết quả chứng minh sự gia tăng của VA đường sắt trong giai đoạn này chủ yếu phụ thuộc vào biến động giá cước và biến động chi phí trung gian, trong khi khối lượng hiện vật tăng trưởng chậm.
Chỉ tiêu thống kê & phân tích chính Giai đoạn thực nghiệm (2008–2012)
Phạm vi thử nghiệm Ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam
So sánh phương pháp Phương pháp cũ (Vụ HTTKQG) vs. Phương pháp hoàn thiện tác giả ($VA_1, VA_2$)
Cơ cấu yếu tố phân phối trong VA Thu nhập người lao động chiếm tỷ trọng cao nhất; Khấu hao $C_1$; Thặng dư; Thuế
Vị thế thị phần đường sắt Chiếm tỷ trọng nhỏ so với đường bộ và đường thủy nội địa cả về luân chuyển và vận chuyển
Nhân tố tác động chính đến VA Biến động cước vận tải và tỷ lệ chi phí trung gian (IC) có tác động mạnh hơn tăng trưởng sản lượng

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về phương pháp luận tính Giá trị gia tăng (VA) ngành Vận tải theo chuẩn mực SNA trên phạm vi quốc tế và bối cảnh Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá một cách toàn diện thực trạng phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải hiện nay của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia (Tổng cục Thống kê) theo các ngành đường.
  3. Làm rõ thực trạng công tác phân tích chỉ tiêu giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam của Tổng cục Thống kê.
  4. Chỉ ra những tồn tại, bất cập trong hệ thống thông tin, biểu mẫu thu thập dữ liệu phục vụ tính và phân tích VA ngành Vận tải.
  5. Đề xuất quy trình và phương pháp hoàn thiện tính toán GO, IC và VA ngành Vận tải trên phạm vi cả nước theo phương pháp sản xuất, đồng thời xây dựng hệ thống phương pháp phân tích nhân tố biến động VA theo các chỉ tiêu hiện vật và chi phí.
  6. Đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và biểu mẫu báo cáo thống kê ngành Vận tải (như Biểu số 01-CS/VTKB) nhằm khắc phục tình trạng thiếu thông tin bóc tách doanh thu và chi phí theo ngành đường.
  7. Thử nghiệm thành công phương pháp tính và phân tích hoàn thiện đối với ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2008–2012, cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về sự sai lệch giữa phương pháp cũ và phương pháp hoàn thiện.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Đối với Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư):
    • Chuyển đổi căn bản quy trình tính GO và IC ngành Vận tải: Tính toán trực tiếp từ nguồn dữ liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm và chế độ báo cáo tài chính thay vì tính gián tiếp từ khối lượng luân chuyển qua chỉ số giá PPI.
    • Cập nhật định kỳ hệ số chi phí trung gian (IC) theo từng năm và từng ngành đường, không áp dụng hệ số cố định dài hạn trong điều kiện giá đầu vào biến động.
    • Sửa đổi hệ thống biểu mẫu điều tra doanh nghiệp, bổ sung chỉ tiêu bóc tách doanh thu và chi phí đối với các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành có hoạt động vận tải.
    • Định kỳ biên soạn và công bố chính thức các tài khoản khu vực thể chế và các chỉ tiêu phân phối lại theo chuẩn Mức 2 và Mức 4 của IMF.
  • Đối với Bộ Giao thông Vận tải và các doanh nghiệp vận tải:
    • Chuẩn hóa hệ thống chứng từ vận tải (hợp đồng vận chuyển, giấy đi đường, vé điện tử) để thống kê chính xác sản lượng vận chuyển và luân chuyển thực tế.
    • Tách bạch hạch toán chi phí giữa hoạt động vận tải chính và các dịch vụ kinh doanh phụ trợ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Về phạm vi thực nghiệm: Luận án mới chỉ thực hiện tính toán thử nghiệm chuyên sâu đối với ngành Vận tải Đường sắt trong giai đoạn 2008–2012 do tính chất tập trung hạch toán toàn ngành của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam cho phép tiếp cận hệ thống dữ liệu đồng bộ; chưa thử nghiệm đầy đủ số liệu chuỗi thời gian cho các ngành Vận tải Đường bộ, Đường thủy và Hàng không trên cùng một mô hình.
    • Về nguồn dữ liệu: Phụ thuộc vào mức độ sẵn có của các cuộc điều tra doanh nghiệp và điều tra mẫu cơ sở cá thể do Tổng cục Thống kê thực hiện, vốn chưa phân tách triệt để doanh thu phụ trợ vận tải.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi thử nghiệm hoàn thiện phương pháp tính và phân tích VA cho toàn bộ các ngành đường còn lại (đặc biệt là Vận tải Đường bộ và Đường thủy nội địa - nơi có sự tham gia lớn của khu vực kinh tế cá thể).
    • Nghiên cứu phương pháp hoàn thiện tính chỉ tiêu giá trị gia tăng ngành Vận tải ở cấp độ vùng và cấp tỉnh (GRDP) nhằm đảm bảo sự thống nhất và ăn khớp hoàn toàn giữa số liệu địa phương và số liệu quốc gia.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho nhiều đối tượng:

  • Cơ quan quản lý và biên soạn thống kê (Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê các tỉnh/thành phố): Cung cấp cơ sở khoa học để Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia và các Vụ chuyên ngành đổi mới phương pháp biên soạn chỉ tiêu GO, IC, VA ngành Vận tải, phục vụ tính toán GDP chính xác hơn.
  • Các nhà hoạch định chính sách kinh tế và giao thông vận tải (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông Vận tải): Nắm bắt phương pháp phân tích cơ cấu và nhân tố tác động đến hiệu quả kinh tế ngành Vận tải, làm căn cứ xây dựng chiến lược phát triển hạ tầng và cơ cấu thị phần vận tải quốc gia.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Thống kê kinh tế, Kinh tế học: Làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp luận SNA, kỹ thuật phân tích chỉ số, phân tích tổng hợp từng phần biến động và ứng dụng tài khoản quốc gia vào một ngành kinh tế cụ thể.
  • Cán bộ quản lý và kế toán - thống kê tại các doanh nghiệp vận tải: Nắm rõ các quy tắc xác định doanh thu, bóc tách chi phí trung gian và thống kê sản lượng vận tải theo chuẩn mực thống kê quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao việc chuyển đổi từ hệ thống MPS sang SNA năm 1993 lại bắt buộc Việt Nam phải thay đổi phương pháp tính giá trị gia tăng ngành Vận tải?

Theo Quyết định số 183-TTg ngày 25/12/1992, Việt Nam chính thức áp dụng SNA từ năm 1993 thay thế MPS để hòa nhập với thông lệ quốc tế. Hệ thống MPS cũ của các nước XHCN chỉ tính toán sản xuất vật chất thuần túy, trong khi SNA mở rộng phạm vi sản xuất sang toàn bộ các dịch vụ kinh tế, bao gồm dịch vụ vận tải hành khách, dịch vụ bốc xếp, quản lý kho bãi, cảng biển và hoa tiêu dẫn dắt. Điều này đòi hỏi ngành Thống kê phải tính đủ giá trị mới sáng tạo ra (VA) của cả vận tải hàng hóa và vận tải hành khách từ mọi thành phần kinh tế.

2. Phương pháp tính GO và VA ngành Vận tải của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia bộc lộ những nhược điểm cốt lõi nào?

Thực tế Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia tính GO theo giá so sánh từ khối lượng luân chuyển (chia theo hàng hóa và hành khách, sau đó phân bổ dịch vụ vận tải kỳ gốc theo tỷ trọng chủ quan), rồi nhân với chỉ số giá cước (PPI) để quy đổi ra GO giá hiện hành. Sau đó, IC được tính bằng cách nhân GO với một Hệ số IC cố định. Cách làm này không phản ánh đúng biến động chi phí thực tế phát sinh (như giá xăng dầu, chi phí sửa chữa thay đổi thất thường) và không bóc tách được doanh thu đối với các doanh nghiệp kinh doanh đa ngành.

3. Khái niệm đơn vị thường trú và trung tâm lợi ích kinh tế trong SNA được áp dụng cho ngành Vận tải Việt Nam như thế nào?

Một đơn vị thể chế là đơn vị thường trú khi có trung tâm lợi ích kinh tế (trụ sở, địa điểm sản xuất kinh doanh) hoạt động từ 1 năm trở lên trên lãnh thổ kinh tế Việt Nam. Đối với ngành Vận tải: các đơn vị cá thể đăng ký kinh doanh hoặc nộp thuế ở đâu thì tính là thường trú tại địa phương đó; các Tổng công ty hạch toán toàn ngành (Đường sắt, Hàng không) có chi nhánh đóng tại tỉnh/thành phố nào thì chi nhánh đó được coi là đơn vị thường trú của tỉnh/thành phố đó; phương tiện vận tải đường bộ hoạt động lưu động liên tỉnh được quy ước là đơn vị thường trú tại nơi đăng ký kinh doanh.

4. Luận án đã sử dụng những phương pháp thống kê nào để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến VA Vận tải Đường sắt?

Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích chỉ số và phương pháp phân tích tổng hợp từng phần biến động nhằm phân rã biến động của VA theo 3 nhóm nhân tố: (1) Nhóm nhân tố kết quả vận tải hiện vật (khối lượng vận chuyển và cự ly luân chuyển); (2) Nhóm nhân tố giá cước bình quân; (3) Nhóm nhân tố chi phí và tỷ suất giá trị gia tăng trên tổng giá trị sản xuất ($VA/GO$).

5. Kết quả thực nghiệm giai đoạn 2008–2012 cho thấy cơ cấu yếu tố cấu thành Giá trị gia tăng ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam có đặc điểm gì?

Phân tích cơ cấu VA Đường sắt theo phương pháp phân phối cho thấy: Thu nhập lần đầu của người lao động (tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, phụ cấp) chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị gia tăng, tiếp theo là chi phí khấu hao tài sản cố định ($C_1$), thặng dư sản xuất của doanh nghiệp và cuối cùng là các khoản thuế sản xuất phát sinh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Chu Thị Bích Ngọc đã giải quyết một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về phương pháp tính và phân tích Giá trị gia tăng ngành Vận tải Việt Nam theo Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA). Tác giả đã phân tích rõ thực trạng và chỉ ra những điểm bất cập trong phương pháp tính toán gián tiếp hiện hành của Vụ Hệ thống Tài khoản quốc gia, từ đó đề xuất quy trình hoàn thiện công thức tính toán chỉ tiêu GO, IC, VA theo phương pháp sản xuất, đồng thời xây dựng hệ thống phương pháp phân tích nhân tố biến động và cải tiến biểu mẫu thu thập số liệu. Kết quả thử nghiệm trên số liệu ngành Vận tải Đường sắt Việt Nam giai đoạn 2008–2012 khẳng định tính khoa học, độ tin cậy và khả năng ứng dụng thực tiễn cao của các giải pháp hoàn thiện được đề xuất, góp phần nâng cao chất lượng biên soạn số liệu tài khoản quốc gia tại Việt Nam.