Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nhiệt ứng dụng phương pháp sai phân hữu hạn cho bài toán hóa rắn trong làm nước đá

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích kỹ thuật nhiệt ứng dụng phương pháp sai phân hữu hạn cho bài toán hóa rắn trong làm nước đá, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Kỹ thuật nhiệt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

87
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu

Luận văn tập trung vào việc ứng dụng Phương Pháp Sai Phân Hữu Hạn (PP SPHH) để giải quyết bài toán hóa rắn trong quá trình làm nước đá. Mục tiêu chính là sử dụng PP SPHH để mô phỏng và tính toán quá trình hình thành lớp đá trong máy làm đá. Phương pháp này được chọn vì khả năng giải quyết các bài toán phức tạp mà phương pháp giải tích truyền thống gặp khó khăn. Luận văn dựa trên nghiên cứu của Tangthieng, người đã sử dụng PP SPHH để tính toán quá trình hình thành lớp đá trong máy làm đá viên.

1.1. Lý do chọn đề tài

PP SPHH được chọn vì tính hiệu quả trong việc giải các bài toán truyền nhiệt phức tạp, đặc biệt là bài toán hóa rắn. Phương pháp này cho phép mô phỏng chính xác quá trình hình thành lớp đá, giúp tối ưu hóa thiết kế máy làm đá. Ngoài ra, PP SPHH còn có thể mở rộng để giải quyết các bài toán khác trong lĩnh vực nhiệt động lực học.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của luận văn là ứng dụng PP SPHH để giải bài toán hóa rắn trong làm nước đá. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào việc xây dựng mô hình toán học, phân tích các phương trình đạo hàm riêng, và viết chương trình tính toán bằng phần mềm Matlab. Kết quả nghiên cứu sẽ được so sánh với các tài liệu tham khảo để đánh giá độ chính xác.

II. Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Luận văn sử dụng PP SPHH để phân tích các phương trình đạo hàm riêng mô tả quá trình truyền nhiệt trong bài toán hóa rắn. Phương pháp này bao gồm việc chuyển đổi các phương trình vi phân thành hệ phương trình đại số, sau đó giải hệ phương trình này bằng thuật toán Thomas. PP SPHH được chọn vì khả năng xử lý các điều kiện biên phức tạp và sự thay đổi vị trí biên theo thời gian.

2.1. Phương trình chủ đạo

Các phương trình chủ đạo trong bài toán hóa rắn bao gồm phương trình truyền nhiệt và phương trình mô tả sự thay đổi vị trí biên. PP SPHH được sử dụng để phân tích các phương trình này, đặc biệt là phương trình truyền nhiệt trong hệ tọa độ trụ. Phương pháp này cho phép chuyển đổi các phương trình vi phân thành hệ phương trình đại số, giúp dễ dàng giải quyết bằng máy tính.

2.2. Phân loại điều kiện biên

Bài toán hóa rắn thuộc loại bài toán có điều kiện biên loại 5, đây là dạng toán khó nhất trong CFD do sự thay đổi vị trí biên theo thời gian. PP SPHH được sử dụng để xử lý các điều kiện biên này, đặc biệt là khi có sự chuyển pha tại lớp biên. Phương pháp này cho phép mô phỏng chính xác quá trình hình thành lớp đá trong máy làm đá.

III. Ứng dụng và kết quả

Luận văn đã ứng dụng PP SPHH để giải bài toán hóa rắn trong làm nước đá. Kết quả nghiên cứu cho thấy PP SPHH có thể mô phỏng chính xác quá trình hình thành lớp đá, đặc biệt là khi sử dụng phần mềm Matlab. Kết quả tính toán được so sánh với các tài liệu tham khảo, cho thấy độ chính xác cao. Ngoài ra, luận văn còn mở rộng ứng dụng PP SPHH cho các loại môi chất lạnh khác nhau và bài toán xả đá.

3.1. Kết quả tính toán

Kết quả tính toán bằng PP SPHH cho thấy sự phù hợp cao với các tài liệu tham khảo. Độ dày lớp đá, năng suất làm đá, và tải lạnh được tính toán chính xác theo thời gian. Kết quả này chứng minh hiệu quả của PP SPHH trong việc giải quyết bài toán hóa rắn.

3.2. Mở rộng ứng dụng

Luận văn đã mở rộng ứng dụng PP SPHH cho các loại môi chất lạnh khác nhau như NH3, R134a, R22, và R32. Ngoài ra, phương pháp này còn được áp dụng để giải bài toán xả đá, cho thấy khả năng ứng dụng rộng rãi của PP SPHH trong lĩnh vực nhiệt động lực học.

IV. Kết luận và hướng nghiên cứu tiếp theo

Luận văn đã chứng minh hiệu quả của PP SPHH trong việc giải quyết bài toán hóa rắn trong làm nước đá. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này có thể mô phỏng chính xác quá trình hình thành lớp đá, đặc biệt là khi sử dụng phần mềm Matlab. Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc mở rộng ứng dụng PP SPHH cho các bài toán phức tạp hơn trong lĩnh vực nhiệt động lực học.

4.1. Kết luận

Luận văn đã thành công trong việc ứng dụng PP SPHH để giải bài toán hóa rắn trong làm nước đá. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp này có độ chính xác cao và có thể mở rộng để giải quyết các bài toán phức tạp khác.

4.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Hướng nghiên cứu tiếp theo bao gồm việc ứng dụng PP SPHH cho các bài toán có điều kiện biên phức tạp hơn, cũng như mở rộng phương pháp này để giải quyết các bài toán trong lĩnh vực năng lượng và môi trường.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Phương pháp Sai Phân Hữu Hạn (pp SPHH) rất hữu hiệu trong việc giải nhiều bài toán truyền nhiệt phức tạp mà phương pháp giải tích gặp khó khăn. Bởi vậy trong các giáo trình truyền nhiệt hiện đại, pp SPHH được trình bày khá kỹ trong chương trình đại học (sách của Holman. Và để nghiên cứu một cách tiếp cận khác các bài toán trong lĩnh vực nhiệt động mà học viên chọn hướng nghiên cứu theo hướng sử dụng thế mạnh của công cụ máy tính và ứng dụng các phương pháp toán học mới để giải quyết các vấn đề kỹ thuật.

Vì lý do trên học viên chọn đề tài "Ứng dụng phương pháp Sai Phân Hữu Hạn cho bài toán hóa rắn trong làm nước đá". Mục tiêu của luận văn Mục tiêu của luận văn là ứng dụng phương pháp số vào bài toán kỹ thuật trong ngành nhiệt. Cụ thể là học viên nghiên cứu ứng dụng phương pháp Sai Phân Hữu Hạn vào bài toán hóa rắn trong quá trình làm nước đá tinh khiết. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Bài toán hóa rắn trong làm nước đá được khởi sướng bởi nhà khoa học vật lý Josef Stefan.

Và quá trình hình thành lớp nước đá được gọi là bài toán Stefan. Học viên đã tham khảo tài liệu [1] và thấy hứng thú với cách mà tác giả Tangthieng sử dụng các công cụ toán học hiện đại để giải bài toán Stefan. Do đó học viên sẽ sử dụng những công cụ được nêu ra trong bài báo để thực hiện lại kết quả như tài liệu [1] đã trình bày. Giới thiệu nhà khoa học Josef Stefan HVTH: NGUYỄN ĐẠI PHÚ 11 ỨNG DỤNG PP SPHH CHO BÀI TOÁN HÓA RẮN TRONG LÀM NƯỚC ĐÁ Hình 2: Josef Stefan (1835–1893) Josef Stefan (hình 2) sinh ngày 24/03/1835 và mất ngày 07/01/1893.

Là một nhà vật lý người Slovenia sinh ra ở làng Sveti Peter, ngày nay là quận Klagenfurt thuộc nước Áo. Ông có nhiều đóng góp quan trọng trong lĩnh vực vật lý năng lượng có thể kể đến định luật vật lý nổi tiếng như định luật Stefan – Boltzmann. Và có gần 80 công trình bài báo khoa học được đăng trên bản tin của viện hàn lâm khoa học Vienna. Giới thiệu bài toán Stefan Ta có phương trình đạo hàm riêng tuyến tính bậc 2 tổng quát của một hiện tượng vật lý như sau : x, y : là các biến độc lập chỉ không gian : là hàm số cần tìm và phụ thuộc x, y : các hàm số tuyến tính của x, y : là hàm đã xác định theo x, y Ta có cách phân loại như sau : ‒ Nếu b2 – 4ac > 0 thì bài toán có dạng Hyperbol ‒ Nếu b2 – 4ac < 0 thì bài toán có dạng Ellip HVTH: NGUYỄN ĐẠI PHÚ 12 ỨNG DỤNG PP SPHH CHO BÀI TOÁN HÓA RẮN TRONG LÀM NƯỚC ĐÁ ‒ Nếu b2 – 4ac = 0 thì bài toán có dạng Parabol  Ví dụ phương trình cho bài toán Ellip ta có : : Phương trình Laplace : Phương trình Poisson  Bài toán Ellip mô tả trạng thái cân bằng.

 Ví dụ phương trình cho bài toán Hyperbol ta có : : Phương trình sóng : Phương trình đối lưu Bài toán Hyperbol mô tả vấn đề lan truyền.  Ví dụ phương trình cho bài toán Parabol ta có : : Phương trình Fourier Bài toán Parabol mô tả vấn đề khuếch tán. Bài toán xác định biên trong phương trình Ellip và Parabol là một bài toán hết sức quan trọng trong khoa học và công nghệ, đó là bài toán nhờ những quan sát biến đổi ở trên biên của quá trình vật lý được mô tả bằng phương trình Ellip và Parabol để xác định lại miền vật lý mà ở đó quá trình biến đổi pha xảy ra. Trong những năm qua, nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu bài toán xác định biên cho phương trình đạo hàm riêng.

Người đi tiên phong trong lĩnh vực này này là Stefan. Vào những năm cuối của thế kỷ XIX, ông nghiên cứu bài toán xác định biên của một khối nước đá tan chảy do tác động của nhiệt độ bên ngoài. Kể từ đó đến nay, do đòi hỏi của khoa học kỹ thuật cũng như do đòi hỏi nội tại của chính bản thân Toán học, các bài toán biên tự do, bài toán xác định biên trong phương trình đạo hàm riêng được nghiên cứu sâu rộng. Các bài toán trước đây thường cho hai điều kiện bổ sung trên biên chưa biết và một điều kiện trên biên tiếp cận được.

Mặc dù đó là bài toán rất khó, độ phi tuyến HVTH: NGUYỄN ĐẠI PHÚ 13 ỨNG DỤNG PP SPHH CHO BÀI TOÁN HÓA RẮN TRONG LÀM NƯỚC ĐÁ cao, nhưng thường là những bài toán ổn định theo nghĩa: sai số nhỏ trong dữ kiện bổ sung dẫn đến sai số nhỏ trong lời giải, tức là sai số nhỏ trong biên cần tìm. Nhưng gần đây, nhiều nhà toán học đã nghiên cứu bài toán khi trên biên cần tìm chỉ có một điều kiện biên, còn trên biên tiếp cận được ta có hai điều kiện biên. Đây là bài toán rất lý thú và thường xuyên xuất hiện trong kỹ thuật hồng ngoại, thử nghiệm không phá hủy, vật lý plasma. Trong luận văn này sẽ tập trung nghiên cứu bài toán Stefan về sự hình thành lớp nước đá trong máy sản xuất nước đá tinh khiết bằng phương pháp Sai Phân Hữu Hạn.

Phương pháp nghiên cứu Dựa trên kết quả của các nhà khoa học trong và ngoài nước để phát triển mở rộng bài toán cho trường hợp hình thành lớp nước đá trên bề mặt phía trong của ống làm nước đá. Để đạt được mục tiêu đó cần có hiểu biết sâu sắc về lý thuyết “sai phân”; Cần sử dụng thành thạo các công cụ của phương pháp sai phân hữu hạn, các thuật toán giải hệ phương trình đại số; Biết thực hiện các tính toán số minh họa cho tính hữu hiệu của phương pháp qua chương trình tính toán được viết bằng ngôn ngữ lập trình hiện đại (ví dụ: Matlab…). Thông qua việc mô phỏng trên phần mềm mô phỏng đã được thương mại (ví dụ: Ansys Fluent…) để nhìn thấy trực quan quá trình hình thành chiều dày lớp nước đá trong không gian 1 chiều, 2 chiều. Và để phần mềm mô phỏng chạy ra kết quả đúng thì cần hiểu rõ hoạt động của phần mềm, cũng như cách thức xây dựng mô hình, thiết lập các điều kiện ràng buộc cho mô hình trong không gian mô phỏng.

Kết quả nghiên cứ sẽ được đúc kết từ việc so sánh giữa kết quả lập trình với kết quả mô phỏng, thực nghiệm. Ý nghĩa khoa học Kết quả của luận văn cho thấy hướng tiếp cận mới – dùng pp SPHH để giải các bài toán có biên tự do – là đơn giản hơn, và có thể mở rộng để áp dụng cho các dạng bài toán phức tạp khác mà phương pháp giải tích gặp khó khăn. Bài toán biên tự do là bài toán mà trong đó một bộ phận của biên không được cho trước. Biên chưa biết này gọi là biên tự do (vì vị trí của chúng thay đổi theo thời gian) và người ta phải tìm nó cùng với nghiệm của phương trình.

Bài toán biên tự do xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khoa học như: vật lý, cơ học môi trường liên tục, trong công nghiệp hóa học, … HVTH: NGUYỄN ĐẠI PHÚ 14 ỨNG DỤNG PP SPHH CHO BÀI TOÁN HÓA RẮN TRONG LÀM NƯỚC ĐÁ Mô hình đầu tiên của các bài toán biên tự do là bài toán về sự nóng chảy hoặc đông đặc của những chất tinh khiết. Nó thường được gọi là bài toán Stefan do J. Stefan công bố vào những năm 1890 – 1891. Đó là bài toán về hiện tượng tan băng.

Giả sử có một thanh băng mỏng, vô tận về một phía, chiếm một khoảng a ≤ x < ∞ , và giả thiết rằng nhiệt độ của băng ở khắp nơi đều bằng 0℃ và tại điểm x = a luôn duy trì nhiệt độ T , với T > 0℃. Khi đó thanh băng bắt đầu tan (chuyển từ trạng thái rắn sang trạng thái lỏng) và vào mỗi thời điểm t > 0 pha nước sẽ chiếm một khoảng a ≤ x < s (t ). Kí hiệu u ( x, t ) là nhiệt độ trong pha nước tại điểm x , ở thời điểm t. Khi đó ta có  2 u xx  ut  0 a  x  st , t  0 ua, t   T t>0 ust , t   0 t > 0 (1.1) k1 Trong đó α là hằng số ≠ 0,  2  , k1 là hệ số truyền nhiệt của nước, ρ1 là khối 1c1 lượng riêng của nước, c1 là nhiệt dung riêng của nước.

Hình 3 thể hiện vị trí biên thay đổi theo thời gian. Trong đó đường x = s (t ) chính là biên tự do, phần không biết trước của biên, ngăn cách giữa pha nước và pha rắn.1) thể hiện nhiệt độ tan của thanh băng tại biên tự do là 0℃. Tuy nhiên, vì biên tự do là chưa biết trước, do đó muốn cho bài toán được đặt đúng người ta phải bổ sung thêm một điều kiện trên biên tự do. Điều kiện đó được suy ra từ định luật bảo toàn năng lượng gọi là điều kiện Stefan (1.2) t Lỏng Hình 3: Vị trí biên thay đổi theo thời gian HVTH: NGUYỄN ĐẠI PHÚ 15 ỨNG DỤNG PP SPHH CHO BÀI TOÁN HÓA RẮN TRONG LÀM NƯỚC ĐÁ 1.

Tổng quan về các công trình liên quan CFD là lĩnh vực đã được phát triển mạnh mẽ ở một số nước trên thế giới như Mỹ, Nga, Đức. Sự phát triển của lý thuyết CFD bắt đầu nhờ sự xuất hiện của máy tính vào những năm 1950. Công cụ đầu tiên được phát triển để giải các phương trình vi phân từng phần nói chung và CFD nói riêng là phương pháp sai phân hữu hạn (Finite Difference Methods – FDM). Tangthieng, Effect of tube diameter on the specific energy consumption of the ice making process, Applied Thermal Engineering 31, 701 – 707.

Bài báo trình bày nội dung áp dụng phương pháp sai phân hữu hạn để giải bài toán truyền nhiệt không ổn định một chiều ở điều kiện lớp biên di động. 2006: André Cliche, Optimization of ice making in laminar falling films, Energy conversion and Management 47, 2260 – 2270. Bài báo phân tích phương trình năng lượng và phương trình động lượng để đưa ra mô hình toán tối ưu cho bài bài toán hình thành lớp băng trên tấm phẳng đặt đứng. Caldwell, Starting solutions for the boundary immobilization method, Communicat- ions in numerical methods in engineering (2005) 21, 289 – 295.

Bài báo trình bày nội dung biến đổi điều kiện biên di động thành điều kiện biên cố định để giải bằng phương pháp sai phân hữu hạn. Parra, Numerical model for two-phase solidification problem in a pipe, Applied Thermal Engineering 24, 2501 – 2509.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ