ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh tiểu đường hay đái tháo đường là tình trạng rối loạn chuyển hóa mạn tính, cơ thể không tự sản sinh insulin hoặc insulin tiết ra không đủ để hấp thu glucose trong máu dẫn đến lượng đường trong máu cao hơn mức bình thường. Hiện nay, bệnh tiểu đường ngày càng phổ biến và gia tăng nhanh ở các nước đang phát triển. Các hướng dẫn điều trị đái tháo đường typ 2 của thế giới cũng như Việt Nam đều khuyến cáo sử dụng metformin là lựa chọn điều trị đầu tay. Khi metformin đơn trị liệu không đủ làm giảm đường huyết về mục tiêu điều trị thì sẽ phải kết hợp thuốc.
Việc phối hợp thuốc điều trị ở bệnh đái tháo đường typ 2 là rất cần thiết để đảm bảo mục tiêu kiểm soát đường huyết nhanh và bền vững hơn. Hiện nay, trên thị trường đã có nhiều dạng thuốc kết hợp giữa metformin và các thuốc khác, đem lại sự thuận tiện cho người bệnh. Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ và cơ quan quản lý Thuốc Châu Âu đã phê duyệt viên nén cố định liều kết hợp giữa metformin và empagliflozin vào năm 2015, làm hạ đường huyết với cơ chế bổ sung để làm tăng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 [1], [2]. Theo quy định tại Thông tư số 07/2022/TT-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn báo cáo số liệu nghiên cứu sinh khả dụng và tương đương sinh học trong đăng ký thuốc thì metformin nằm trong danh mục các dược chất yêu cầu báo cáo số liệu nghiên cứu tương đương sinh học khi đăng ký thuốc [3].
Để thực hiện các nghiên cứu tương đương sinh học các chế phẩm chứa metformin và empagliflozin cần phải xây dựng được phương pháp định lượng hai hoạt chất này trong huyết tương đáp ứng các quy định hiện hành. Tuy nhiên, do nồng độ empagliflozin trong huyết tương rất thấp, các tính chất lý hóa của metformin và empagliflozin có nhiều điểm không giống nhau nên cần phải phát triển một phương pháp phân tích có đủ độ nhạy, cần ít thể tích huyết tương, thời gian phân tích mẫu ngắn và đặc biệt là phù hợp với điều kiện trang thiết bị, kinh tế của Việt Nam để có thể định lượng đồng thời metformin và empagliflozin trong huyết tương người phục vụ công tác đánh giá tương đương sinh học của các chế phẩm có chứa metformin và empagliflozin trên thị trường. Vì vậy, đề tài: “Xây dựng phương pháp định lượng đồng thời metformin và empagliflozin trong huyết tương người bằng sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS/MS)” được 1 thực hiện với các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Xây dựng phương pháp định lượng đồng thời metformin và empagliflozin trong huyết tương người bằng kỹ thuật LC-MS/MS.
Ứng dụng phương pháp để định lượng metformin, empagliflozin trong mẫu huyết tương người tình nguyện uống chế phẩm chứa đồng thời hai dược chất này trong nghiên cứu tương đương sinh học. TỔNG QUAN VỀ METFORMIN VÀ EMPAGLIFLOZIN 1. Công thức cấu tạo và tính chất lý hóa Hình 1. Công thức cấu tạo của metformin - Công thức phân tử: C5H11N5 - Khối lượng phân tử: 129,16 g/mol - Tên khoa học: 3-(diaminomethylidene)-1,1-dimethylguanidine - Metformin ở dạng tinh thể màu trắng, dễ tan trong nước, khó tan trong ethanol 96%, thực tế không tan trong aceton và methylen clorid; hệ số logP = -2,6; pKa = 12,4 [4], [5].
Dược lực học Metformin là một thuốc chống đái tháo đường nhóm biguanid. Thuốc không kích thích giải phóng insulin từ các tế bào beta tuyến tụy. Thuốc không có tác dụng hạ đường huyết ở người không bị đái tháo đường. Metformin làm giảm nồng độ glucose trong huyết tương khi đói và sau bữa ăn, ở người bệnh đái tháo đường typ 2 (không phụ thuộc insulin).
Metformin có thể tác dụng theo 3 cơ chế: (1) giảm sản xuất glucose tại gan bằng cách ức chế tái tạo glucose và phân giải glycogen; (2) tại cơ, bằng cách tăng độ nhạy cảm với insulin, tăng hấp thu và sử dụng glucose ngoại vi; (3) và làm chậm sự hấp thu glucose ở ruột. Metformin kích thích tổng hợp glycogen nội bào bằng cách hoạt hóa enzyme glycogen synthase. Metformin cũng làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần, LDL cholesterol và triglycerid [6]. Dược động học 3 Hấp thu: Metformin hấp thu chậm và không hoàn toàn ở đường tiêu hóa, chủ yếu ở ruột non.
Sinh khả dụng tuyệt đối của 500 mg hoặc 850 mg metformin hydroclorid uống lúc đói xấp xỉ 50 - 60%. Sau khi dùng đường uống, metformin hydroclorid được hấp thu không hoàn toàn và có thể bão hòa. Dược động học hấp thu của metformin hydroclorid được cho là không tuyến tính. Ở mức liều và chế độ liều của metformin hydroclorid, nồng độ thuốc trong huyết tương ở trạng thái ổn định đạt được trong vòng 24 đến 48 giờ và thường thấp hơn 1 µg/ml.
Trong các thử nghiệm lâm sàng có đối chứng, nồng độ tối đa của metformin trong huyết tương (Cmax) không vượt quá 5 µg/ml ngay cả ở mức liều tối đa. Thức ăn làm giảm mức độ và làm chậm không đáng kể quá trình hấp thu của metformin hydroclorid. Sau khi dùng liều 850 mg, đã ghi nhận được nồng độ đỉnh của thuốc trong huyết tương giảm 40%, AUC (diện tích dưới đường cong) giảm 25% và thời gian đến khi đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương kéo dài thêm 35 phút. Chưa rõ ý nghĩa lâm sàng của tình trạng giảm này.
Phân bố: Thuốc liên kết với protein huyết tương không đáng kể. Metformin phân bố nhanh chóng vào các mô và dịch cơ thể. Thuốc cũng phân bố vào trong hồng cầu. Chuyển hóa: Thuốc không bị chuyển hóa ở gan và không bài tiết qua mật.
Thải trừ: Sau khi uống, khoảng 90% lượng thuốc hấp thu được thải trừ qua đường nước tiểu trong vòng 24 giờ đầu ở dạng không đổi. Không phát hiện được một chất chuyển hóa nào ở người. Nửa đời của thuốc trong huyết tương là 1,5 - 4,5 giờ [6], [7]. Công thức cấu tạo và tính chất lý hóa Hình 1.
Công thức cấu tạo của empagliflozin 4 - Công thức phân tử: C23H27ClO7 - Khối lượng phân tử: 450,9 g/mol - Tên khoa học: (2S,3R,4R,5S,6R)-2-[4-chloro-3-[[4-[(3S)-oxolan-3- yl]oxyphenyl]methyl]phenyl]-6-(hydroxymethyl)oxane-3,4,5-triol - Empagliflozin ở dạng chất rắn kết tinh, màu trắng đến hơi vàng; rất khó tan trong nước (pH 1 – 7,4), khó tan trong acetonitril và ethanol, hơi tan trong methanol và không tan trong toluen; hệ số logP = 1,79 [1], [8]. Dược lực học Empagliflozin là thuốc ức chế mạnh, cạnh tranh có chọn lọc, có khả năng hồi phục kênh đồng vận chuyển Na-glucose 2 (SGLT2). Empagliflozin cải thiện kiểm soát đường huyết ở những bệnh nhân đái tháo đường typ 2 theo cơ chế giảm tái hấp thu đường ở thận. Thông qua việc ức chế SGLT2, lượng đường thừa sẽ được bài tiết qua nước tiểu.
Empagliflozin cải thiện nồng độ đường huyết khi đói và sau khi ăn. Cơ chế tác dụng của empagliflozin không phụ thuộc chức năng tế bào beta và con đường sử dụng insulin nên dẫn đến nguy cơ hạ glucose máu thấp [7]. Dược động học Hấp thu: Sau khi uống, empagliflozin nhanh chóng được hấp thu với nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) xuất hiện với giá trị tmax trung vị khoảng 1,5 giờ. Sau đó, nồng độ huyết tương giảm theo 2 pha với một pha phân bố nhanh và một pha kết thúc tương đối chậm.
Ở trạng thái ổn định nồng độ trung bình của thuốc trong huyết tương (AUC) và Cmax tương ứng là 1870 nmol.giờ/l và 259 nmol/l với empagliflozin 10 mg và 4740 nmol.giờ/l và 687 nmol/l với empagliflozin 25 mg, dùng 1 lần một ngày. Nồng độ toàn thân của empagliflozin tăng tỉ lệ với liều. Uống 25 mg empagliflozin sau bữa ăn có nhiều chất béo và nhiều calo làm giảm nhẹ nồng độ empagliflozin trong tuần hoàn; AUC giảm khoảng 16% và Cmax giảm khoảng 37% so với uống thuốc khi đói. Ảnh hưởng được ghi nhận của thức ăn đến dược động học của empagliflozin được xem như không đáng kể trên lâm sàng và empagliflozin có thể được dùng cùng hoặc không cùng với thức ăn.
Phân bố: Thể tích phân bố ở trạng thái ổn định biểu kiến được ước tính là 73,8l. Tỉ 5 lệ phân bố trong hồng cầu xấp xỉ 36,8% và gắn kết protein huyết tương là 86,2%. Chuyển hóa: Không có chất chuyển hoá chính nào của empagliflozin được tìm thấy trong huyết tương người và chất chuyển hóa chủ yếu là 3 chất liên hợp glucuronid (2-O-, 3-O-, và 6-O-glucuronid). Nồng độ trong tuần hoàn của mỗi chất chuyển hóa là ít hơn 10% tổng số các chất liên quan đến thuốc.
Thải trừ: nửa đời thải trừ biểu kiến của empagliflozin ước tính khoảng 12,4 giờ và độ thanh thải đường uống biểu kiến là 10,6 l/giờ. Biến thiên giữa các cá thể và thặng dư của độ thanh thải empagliflozin đường uống tương ứng là 39,1% và 35,8%. Với liều dùng 1 lần trong ngày, nồng độ huyết tương ở trạng thái ổn định của empagliflozin đạt được sau khi dùng liều thứ năm. Sau khi dùng dạng uống dung dịch [14C]-empagliflozin trên người tình nguyện khoẻ mạnh, khoảng 95,6% thuốc liên quan có hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong phân (41,2%) hoặc nước tiểu (54,4%).
Phần lớn thuốc có hoạt tính phóng xạ được tìm thấy trong phân là không đổi so với thuốc ban đầu và xấp xỉ một nửa thuốc có hoạt tính phóng xạ được bài tiết trong nước tiểu dưới dạng không đổi so với ban đầu [7]. Dạng thuốc phối hợp giữa empagliflozin và metformin hydroclorid với cơ chế bổ sung làm tăng kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2. Hiện nay, các chế phẩm kết hợp metformin và empagliflozin trên thị trường dưới dạng viên nén, viên nén bao phim, viên nén giải phóng kéo dài với các hàm lượng empagliflozin/metformin hydroclorid tương ứng là 5/500 mg, 5/850 mg, 5/1000 mg, 12,5/500 mg, 12,5/850 mg, 12,5/1000 mg. Các thông số dược động học của metformin và empagliflozin Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax), thời gian đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương (tmax), thời gian bán thải (T1/2) của metformin và empagliflozin trong một số nghiên cứu được trình bày trong Bảng 1.