Luận án tiến sĩ về phương pháp dạy học tương tác trong môn Toán ở trường trung học phổ thông

Luận án tiến sĩ giáo dục phân tích lý luận và phương pháp dạy học bộ môn toán dạy học tương tác trong môn toán ở trường trung học phổ, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2015

219
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học tương tác

1.1.1. Những kết quả nghiên cứu trên thế giới

1.1.2. Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam

1.1.3. Thực tiễn về dạy học tương tác trong môn Toán ở trường Trung học phổ thông hiện nay

1.1.3.1. Dạy học tương tác
1.1.3.1.1. Dạy học và quá trình dạy học
1.1.3.1.2. Quan niệm về dạy học tương tác
1.1.3.1.3. Cơ sở khoa học của dạy học tương tác
1.1.3.1.4. Các nhân tố trong dạy học tương tác
1.1.3.1.4.1. Người học – người làm việc chủ động
1.1.3.1.4.2. Người dạy – người hướng dẫn, trợ giúp
1.1.3.1.4.3. Môi trường - ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình dạy học
1.1.3.1.5. Sự tương tác giữa các nhân tố trong dạy học tương tác

1.1.4. Hoạt động giao tiếp toán học

1.1.4.1. Phương tiện biểu đạt
1.1.4.2. Phương thức giao tiếp
1.1.4.3. Mối quan hệ giữa dạy học tương tác với các phương pháp dạy học khác

1.2. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1. Tổ chức dạy học tương tác

2.1.1. Khái niệm tổ chức dạy học tương tác

2.1.2. Các yêu cầu đối với việc tổ chức dạy học tương tác. Đặc trưng của việc tổ chức dạy học tương tác. Các giai đoạn tổ chức dạy học tương tác

2.1.2.1. Giai đoạn chuẩn bị
2.1.2.2. Giai đoạn thực hiện dạy học tương tác
2.1.2.3. Giai đoạn kiểm tra đánh giá kết quả học tập

2.1.3. Hình thức tổ chức dạy học tương tác môn Toán ở trường Trung học phổ thông

2.1.3.1. Học theo nhóm
2.1.3.2. Học theo lớp

2.1.4. Kỹ thuật tổ chức và dạy học tương tác môn Toán ở trường Trung học phổ thông

2.1.4.1. Kỹ thuật tổ chức hoạt động dạy học
2.1.4.2. Kỹ thuật tạo tình huống gợi vấn đề
2.1.4.3. Kỹ thuật sử dụng câu hỏi
2.1.4.4. Kỹ thuật đánh giá
2.1.4.5. Kỹ thuật sử dụng phương tiện dạy học

2.1.5. Công nghệ thông tin trong tổ chức dạy học tương tác

2.1.5.1. Vai trò của công nghệ thông tin trong dạy học tương tác
2.1.5.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức dạy học tương tác

2.2. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN QUA CHỦ ĐỀ PHƯƠNG TRÌNH VÀ BẤT PHƯƠNG TRÌNH

3.1. Chủ đề Phương trình và Bất phương trình trong môn Toán ở trường Trung học phổ thông

3.1.1. Vị trí, vai trò của Phương trình và Bất phương trình

3.1.2. Yêu cầu về kiến thức, kỹ năng

3.1.3. Tiềm năng dạy học tương tác chủ đề Phương trình và Bất phương trình

3.1.4. Định hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp

3.1.5. Một số biện pháp dạy học tương tác chủ đề phương trình và bất phương trình

3.1.5.1. Biện pháp 1: Tạo môi trường học tập hứng thú, thân thiện và hợp tác trong quá trình dạy học
3.1.5.2. Biện pháp 2: Tạo cơ hội cho học sinh được hoạt động, được giao tiếp, được thể hiện năng lực của bản thân
3.1.5.3. Biện pháp 3: Tạo tình huống dạy học tương tác khi sử dụng các phương pháp dạy học tích cực
3.1.5.4. Biện pháp 4: Thực hiện các giai đoạn tổ chức dạy học tương tác

3.2. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM

4.1. Khái quát quá trình thực nghiệm

4.2. Mục đích, yêu cầu thực nghiệm

4.3. Đối tượng thực nghiệm

4.4. Nội dung thực nghiệm

4.5. Tiến trình thực nghiệm

4.6. Đo đạc và xử lý số liệu

4.7. Đánh giá kết quả thực nghiệm

4.7.1. Kết quả thực nghiệm vòng 1

4.7.2. Kết quả thực nghiệm vòng 2

4.8. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1. Một số bài soạn vận dụng dạy học tương tác với chủ đề phương trình và bất phương trình

Phụ lục 2. Phiếu khảo sát

Phụ lục 3. Các đề kiểm tra

Phụ lục 4. Một số hình ảnh tại lớp thực nghiệm

Phụ lục 5. Các chứng nhận của đơn vị thực nghiệm

Tóm tắt

I. Phương pháp dạy học tương tác trong môn Toán

Phương pháp dạy học tương tác (DHTT) trong môn Toán là một trong những phương pháp dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trung học phổ thông (THPT). DHTT không chỉ giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách hiệu quả mà còn tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh có thể giao tiếp, thảo luận và hợp tác với nhau. Theo nghiên cứu, việc áp dụng DHTT trong dạy học môn Toán có thể nâng cao khả năng tư duy phản biện và sáng tạo của học sinh. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh giáo dục hiện nay, khi mà việc phát triển kỹ năng mềm và khả năng làm việc nhóm ngày càng được coi trọng. DHTT không chỉ đơn thuần là việc truyền đạt kiến thức từ giáo viên đến học sinh mà còn là quá trình tương tác giữa học sinh với nhau và giữa học sinh với giáo viên. Như vậy, DHTT trong môn Toán không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho tương lai.

1.1. Tầm quan trọng của DHTT trong dạy học Toán

DHTT trong môn Toán có vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy và kỹ năng giải quyết vấn đề của học sinh. Theo các nghiên cứu, việc học tập thông qua tương tác giúp học sinh không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn hình thành các kỹ năng như phân tích, tổng hợp và đánh giá thông tin. Học sinh được khuyến khích tham gia vào các hoạt động nhóm, thảo luận và giải quyết các bài toán thực tiễn, từ đó nâng cao khả năng tư duy phản biện. Hơn nữa, DHTT còn giúp học sinh phát triển kỹ năng giao tiếp và hợp tác, điều này rất cần thiết trong môi trường làm việc hiện đại. Việc tạo ra một môi trường học tập tích cực, nơi mà học sinh có thể tự do bày tỏ ý kiến và thảo luận, sẽ giúp họ cảm thấy tự tin hơn trong việc học tập và khám phá kiến thức mới.

1.2. Các phương pháp DHTT hiệu quả trong môn Toán

Có nhiều phương pháp DHTT hiệu quả có thể áp dụng trong dạy học môn Toán, bao gồm học theo nhóm, thảo luận lớp và sử dụng công nghệ thông tin. Học theo nhóm cho phép học sinh làm việc cùng nhau để giải quyết các bài toán, từ đó phát triển kỹ năng hợp tác và giao tiếp. Thảo luận lớp giúp học sinh chia sẻ ý tưởng và quan điểm của mình, tạo ra một không khí học tập sôi nổi và tích cực. Sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học cũng là một phương pháp hiệu quả, giúp học sinh tiếp cận với các nguồn tài liệu phong phú và đa dạng. Việc áp dụng các phương pháp này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển các kỹ năng cần thiết cho tương lai.

II. Thực tiễn dạy học tương tác trong môn Toán

Thực tiễn dạy học tương tác trong môn Toán ở trường THPT hiện nay cho thấy nhiều kết quả khả quan. Nhiều giáo viên đã áp dụng DHTT vào giảng dạy, tạo ra môi trường học tập tích cực cho học sinh. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua. Một số giáo viên vẫn còn giữ thói quen dạy học truyền thống, dẫn đến việc học sinh không được khuyến khích tham gia vào quá trình học tập. Để khắc phục tình trạng này, cần có sự hỗ trợ từ phía nhà trường và các cơ quan quản lý giáo dục. Việc tổ chức các khóa đào tạo cho giáo viên về DHTT sẽ giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng giảng dạy của họ. Hơn nữa, việc tạo ra các tài liệu hướng dẫn và chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên cũng là một cách hiệu quả để thúc đẩy DHTT trong môn Toán.

2.1. Những thách thức trong việc áp dụng DHTT

Mặc dù DHTT đã được áp dụng rộng rãi, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc thực hiện. Một trong những thách thức lớn nhất là sự thiếu hụt về cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Nhiều trường học vẫn chưa có đủ điều kiện để tổ chức các hoạt động DHTT hiệu quả. Bên cạnh đó, một số giáo viên vẫn còn e ngại khi áp dụng các phương pháp mới, dẫn đến việc không tận dụng được hết tiềm năng của DHTT. Để giải quyết vấn đề này, cần có sự đầu tư từ phía nhà nước và các tổ chức giáo dục để cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Đồng thời, cần có các chương trình đào tạo và bồi dưỡng cho giáo viên để họ tự tin hơn trong việc áp dụng DHTT.

2.2. Kinh nghiệm áp dụng DHTT thành công

Nhiều trường học đã áp dụng thành công DHTT trong môn Toán, mang lại kết quả tích cực cho học sinh. Một số trường đã tổ chức các buổi học ngoại khóa, nơi học sinh có thể tham gia vào các hoạt động thực tiễn, từ đó áp dụng kiến thức đã học vào thực tế. Các hoạt động này không chỉ giúp học sinh củng cố kiến thức mà còn phát triển kỹ năng làm việc nhóm và giao tiếp. Hơn nữa, việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học cũng đã được nhiều trường áp dụng thành công, giúp học sinh tiếp cận với các nguồn tài liệu phong phú và đa dạng. Những kinh nghiệm này cần được chia sẻ và nhân rộng để nâng cao chất lượng dạy học môn Toán trong toàn quốc.

21/02/2025
Luận án tiến sĩ lý luận và phương pháp dạy học bộ môn toán dạy học tương tác trong môn toán ở trường trung học phổ thông qua chủ đề phương trình và bất phương trình

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. DẠY HỌC TƯƠNG TÁC TRONG MÔN TOÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về dạy học tương tác 1. Những kết quả nghiên cứu trên thế giới Quan hệ tương tác giữa các yếu tố của HĐ dạy và học đã được đề cập từ rất sớm trong lịch sử giáo dục của nhân loại.

Khổng Tử (551 – 479 TCN) hay Socrate (469 – TCN) đã tỏ thái độ hết sức trân trọng đối với người thầy giáo và đề cao vai trò tích cực, chủ động trong học tập của người học khi mô tả HĐ dạy học. Tư tưởng SPTT đã được nhiều người nghiên cứu. Trong các tài liệu sư phạm của Liên Xô, Đức trước đây, người ta đã nói nhiều đến tương tác Dạy - Học. Các nhà giáo dục Liên Xô như : N.

Babanxki,… đã đánh giá tính chất nhiều nhân tố trong quá trình dạy học (ba nhân tố : Dạy – Nội dung – Học), khẳng định mối quan hệ qua lại giữa hai yếu tố Dạy và Học. Tuy nhiên, vẫn chưa bao quát hết chức năng và cấu trúc của từng yếu tố, chưa nêu rõ được cơ chế tác động qua lại giữa các yếu tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học nên chưa có tác dụng phát huy hết tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học. Vào những năm 90 của thế kỉ XX, nhóm tác giả người Pháp là Guy Brousseau, Claire Margolinas, Claude Comiti,. cũng đã nghiên cứu sự tương tác giữa các yếu tố của HĐ dạy học trong lí thuyết tình huống môn Toán [81, tr.

Họ đã đặt cơ sở khoa học cho những tác động sư phạm, thúc đẩy HĐ học của HS lên đến mức cao mà vẫn không làm lu mờ, hạ thấp vai trò của thày giáo với tư cách là người “khởi xướng” và cũng là người “kết thúc” một tình huống dạy học. Guy Brousseau đã nghiên cứu mối quan hệ tương tác và tương hỗ giữa người dạy (dạy) - người học (học) và môi trường trong quá trình dạy học. Trong đó môi trường được xem xét dưới góc độ tình huống. Theo ông, có hai loại tình huống trong dạy học là tình huống didactic và tình huống a- didactic.Brousseau và các cộng sự của ông đã đưa ra các phương tiện, các công cụ để kích thích hứng thú và xây dựng các tình huống dạy học, đặc biệt cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa Dạy – Học – Môi trường để dạy học đạt hiệu quả cao.

Trong những công trình nghiên cứu, các tác giả đã phân tích kĩ các vấn đề cơ bản của quan điểm SPTT như: 7 - Xác nhận cấu trúc HĐ dạy học bao gồm bốn nhân tố: Học (Người học); Dạy (Người dạy); Kiến thức (Khái niệm khoa học); Môi trường (Điều kiện dạy học cụ thể). - Phân tích hai vai trò khác nhau của thầy giáo trong tình huống dạy học: đề xuất tình huống và tổ chức cho HS giải quyết tình huống để tìm thấy kiến thức và tạo điều kiện để HS chính xác hoá kiến thức thành tri thức khoa học ( mà các tác giả gọi là uỷ thác một tình huống và thể chế hoá kiến thức). - Phân loại tình huống dạy học và mức độ can thiệp của thày giáo trong từng loại tình huống. - Môi trường (theo các tác giả) không phải là một yếu tố tĩnh, bất động, mà đích thực là một thành tố thuộc cấu trúc HĐ dạy học.

Môi trường không chỉ ảnh hưởng đến người học, mà quan trọng ở chỗ nó làm thay đổi người học, người dạy nhằm đảm bảo sự thích nghi của họ trước những đòi hỏi của môi trường, và ngược lại, người học và người dạy cũng làm thay đổi chính môi trường nữa. Jean- Marc Denommé & Madeleine Roy là hai tác giả cuốn sách “Tiến tới một phương pháp SPTT (bộ ba: Người học - người dạy – môi trường)” [38] và “SPTT một tiếp cận khoa học thần kinh về học và dạy” [37] đã khởi xướng một cách tiếp cận sư phạm, gọi là phương pháp SPTT. Hai cuốn sách này trình bày về sự tương tác giữa ba tác nhân trong quá trình dạy học là người dạy, người học và môi trường. Chất lượng dạy học tốt hay không là do sự tương tác của ba tác nhân này có tốt hay không.

Trong hai cuốn sách này, các tác giả này đã nói tới một trường phái sư phạm học tương tác cùng nền tảng lý luận của nó. Tư tưởng sư phạm học tương tác được J.Roy giới thiệu lần đầu tiên ở Việt Nam vào năm 2000. Trong công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã giới thiệu những kết quả sau: - HĐ dạy học: Giáo dục là sự tương tác lẫn nhau giữa ba yếu tố: Người dạy – người học và môi trường. - Xác định chức năng của từng yếu tố (người học – người thợ ; người dạy – người hướng dẫn; môi trường và các ảnh hưởng của nó).

- Xác định quan hệ qua lại (tác giả gọi là các liên đới) giữa các yếu tố và giữa các bộ phận trong một yếu tố. 8 - Đặc biệt, tác giả đã phân tích kỹ cơ sở thần kinh nhận thức (bộ máy học) và các điều kiện khác (như vốn sống, xúc cảm, phong cách học và dạy,.) ở người học làm cơ sở cho các tác động sư phạm có hiệu quả. - Xác nhận các thành phần không thể thiếu của sư phạm học tương tác đó là sư phạm hứng thú, sư phạm hợp tác, và sư phạm thành công, các khâu của HĐ dạy học ( như lập kế hoạch, tổ chức HĐ và hợp tác).Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trường một cách cụ thể và trực quan. Tuy nhiên môi trường ở đây được nhìn nhận trên nhiều bình diện, nhiều mức độ khác nhau, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở việc xem xét môi trường như một yếu tố tĩnh, có sẵn, tồn tại xung quanh và ảnh hưởng đến người dạy, người học và HĐ của họ.

Từ những phân tích trên, có thể thấy hai nhóm tác giả đã có những điểm tương đồng như: xác nhận các yếu tố cơ bản của sư phạm học tương tác là Dạy – Học – Môi trường, chức năng của từng yếu tố và làm rõ quan hệ giữa các yếu tố trong HĐ dạy học.Roy đã thành công trong việc mô tả yếu tố môi trường một cách cụ thể và trực quan, nhưng lại chưa làm rõ bằng cách nào và công cụ nào để các nhà sư phạm phát huy tác động tích cực của môi trường đến người học.Brousseau và các cộng sự của ông đã đưa được ra phương tiện, các công cụ để kích thích sự hứng thú và xây dựng các tình huống dạy học, và các cách thức gia tăng sự tương tác, hợp tác giữa Dạy – Học – Môi trường để dạy học đạt hiệu quả cao. Như vậy các tác giả đã kế thừa, bổ sung cho nhau làm cho tư tưởng SPTT phát triển và ngày càng phong phú. Gần đây, trong cuốn sách “The construction of new mathematical knowledge in classroom interaction” (Xây dựng kiến thức toán học mới trong lớp học tương tác), tác giả Heinz Steinbring [101] cũng đưa ra cách tiếp cận dạy học theo quan điểm sư phạm này. Nội dung cuốn sách đề cập tới sự kết nối và đa dạng của những khái niệm cơ bản của lý thuyết nền và nhận thức về bản chất của kiến thức toán học.

Tác giả xây dựng những lý thuyết cơ bản và phương pháp nhận thức theo định hướng phân tích sự tương tác trong toán học cùng những kiến thức toán học và hệ 9 thống giao tiếp cần thiết trong quá trình nhận thức toán. Tác giả khẳng định người học giữ vị trí trung tâm trong quá trình dạy học. Tác giả đề cao vai trò của sự giao tiếp và sự tranh luận trong lớp học. Ông còn đưa ra các mẫu giao tiếp quen thuộc được đúc rút từ những kinh nghiệm.

Theo ông, đối với trẻ em khi học toán, tranh luận về một nội dung nào đó là một cách phát triển những kiến thức toán của mình. Hơn nữa, sự tranh luận về toán học của những sinh viên trẻ là sự thể hiện những điều kịên nhận thức về kiến thức toán học. Ông còn nhấn mạnh mục tiêu dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tìm hiểu và phân tích bài dạy nhất là trong quá trình dạy và học tương tác. Trong cuốn sách này, Heinz Steinbring đưa ra khái niệm cơ bản của lý thuyết nền và những nét chính về cách lựa chọn phương pháp luận nghiên cứu trong sự tương tác ở lớp học toán.

Ông đã minh hoạ bằng một loạt khái niệm học tập toán ở trường Tiểu học mà ông đã phân tích rõ điều kiện của việc xây dựng những kiến thức toán học mới trong sự tương tác ở lớp học. Cuốn sách đã đưa ra cách tiếp cận mới trong dạy và học toán đặc biệt là nhận thức luận về bản chất của kiến thức Toán cùng với cách giao tiếp trong dạy học Toán. Tuy nhiên, hàng loạt các ví dụ Heinz Steinbring minh hoạ ở đây chủ yếu trong toán Tiểu học mà chưa thấy mở rộng hơn trong các bậc học cao hơn. Hiện nay, trên thế giới đang sử dụng một công cụ trong giảng dạy tạo được môi trường tương tác cao đó là Bảng điện tử tương tác Activboard.

Bảng điện tử này được xem như sản phẩm nòng cốt trong việc xây dựng giải pháp lớp học tương tác của công ty Promethean (Anh quốc) [97]. Đây cũng là công ty đi tiên phong về lĩnh vực xây dựng lớp học tương tác, đưa truyền thông đa phương tiện phục vụ cho việc dạy và học. Loại bảng này có chức năng của màn hình tiếp xúc trực tiếp, cho phép người sử dụng dùng bút thể hiện tự do những nội dung cần trình bày và kết nối được với các môi trường mạng, Internet. Các GV và HS các cấp đều có thể dùng hệ thống này để xây dựng, tiếp cận các bài giảng điện tử, giáo án hay các thư viện số hóa trên mạng; trình bày những cuộc thảo luận nhóm, trắc nghiệm trực tiếp nhờ những phần mềm đi kèm.

10 So với môi trường dạy học chỉ bằng sách vở truyền thống và hệ thống các phòng học bộ môn có nối mạng máy tính, Activboard có nhiều ưu điểm vượt trội hơn, tiết kiệm nhiều chi phí và hiện đang là sản phẩm được nhiều nền giáo dục quốc gia trên thế giới ứng dụng. Ưu điểm nổi bật của Hệ thống giảng dạy tương tác và đánh giá Activboard: - Đây là công nghệ chuyên dùng cho phục vụ dạy và học, hàm lượng công nghệ được ứng dụng đến 99% vào công tác giảng dạy và đánh giá hiệu quả dạy và học giúp tiết kiệm tối đa hiệu quả đầu tư vào con người và vật chất.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phương pháp dạy học tương tác môn Toán cho học sinh trung học phổ thông là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc áp dụng các phương pháp dạy học tương tác để nâng cao hiệu quả học tập môn Toán. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo ra môi trường học tập tích cực, nơi học sinh được khuyến khích tham gia, trao đổi và phát triển tư duy logic. Các phương pháp như học nhóm, sử dụng công nghệ và kết hợp thực hành được đề cập chi tiết, giúp giáo viên thiết kế bài giảng linh hoạt và thu hút. Đặc biệt, tài liệu cung cấp các ví dụ cụ thể và hướng dẫn thực tiễn để áp dụng vào giảng dạy, từ đó giúp học sinh tiếp cận Toán học một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.

Để mở rộng kiến thức về phương pháp dạy học Toán, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giáo dục học phát triển tư duy cho học sinh trong dạy học giải toán hình học không gian, tài liệu này tập trung vào việc phát triển tư duy thông qua mối liên hệ giữa hình học không gian và hình học phẳng. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ phát triển kỹ năng dạy học toán cho sinh viên sư phạm cung cấp góc nhìn chuyên sâu về việc rèn luyện kỹ năng giảng dạy Toán theo chuẩn nghề nghiệp. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ dạy học môn Toán lớp 11 ở Lào theo hướng rèn luyện hoạt động trí tuệ là một tài liệu thú vị về cách tiếp cận Toán học trong bối cảnh giáo dục quốc tế.