CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP “DẠY HỌC KHÁM PHÁ” 1. Lịch sử nghiên cứu đề tài. Việc nghiên cứu vận dụng phương pháp “Dạy học khám phá” vào trong giảng dạy đã là đề tài luận văn của nhiều học viên cao học tại nhiều trường, nhiều bộ môn khác nhau, thậm chí trong cùng một bộ môn nhưng vận dụng ở các chương, các phần kiến thức khác nhau.
Cụ thể như một số đề tài sau đây: - “Vận dụng phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn trong dạy học bất đẳng thức ở trường THPT” của Đặng Khắc Quang, Đại học sư phạm Thái Nguyên năm 2009. - “Vận dụng phương pháp dạy học khám phá chương “Chất khí” (Vật lí 10 cơ bản) Nhằm phát triển tư duy của học sinh” của Nguyễn Minh Trí, Đại học sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2010 - “Vận dụng phương pháp dạy học khám phá để rèn luyện năng lực giải toán hình học không gian lớp 11 cho học sinh THPT” của Phạm Đức Hạnh, Đại học sư phạm Vinh năm 2010. - “Vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong phép biến hình lớp 11 THPT” của Nguyễn Thị Hạnh Thuý, Đại học Giáo Dục năm 2011. - “Vận dụng phương pháp dạy học khám phá vào dạy một số khái niệm liên quan đến véc tơ”của Hoàng Thị Thu Nga, Đại học Cần thơ khoa sư phạm năm 2011.
- “Tổ chức dạy học khám phá trong dạy học các quy luật di truyền sinh học 12” của Thân Thị Lan, đại học sư phạm Thái Nguyên Năm 2012. TIEU LUAN MOI download 6: skknchat@gmail.com - Đi sâu nghiên cứu về lý luận phương pháp dạy học tích cực đã có nhiều nhà sư phạm đưa ra các quan niệm, các thuật ngữ khác nhau nhưng thống nhất nhau về mặt bản chất như: “Dạy học tự phát hiện” cả các tác giả Đỗ Đình Hoan, Nguyễn Hữu Hợp, Nguyễn Tuyết Nga; “Phương pháp phát hiện lại” của tác giả Nguyễn Kỳ; “ Kiến tạo- tìm tòi” của tác giả Đặng Thành Hưng, Lê Nguyên Long; “Dạy học khám phá”, “Dạy học khám phá có hướng dẫn”, “Dạy học bằng các hoạt động khám phá” của Trần Thúc Trình, Trần Bá Hoành, Bùi văn Nghị, Lê Võ Bình, Nguyễn Văn Hiếu. Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu của các học viên cao học về việc vận dụng phương pháp dạy học khám phá và trong quá trình tổ chức dạy học, song chưa có đề tài nào nghiên cứu việc vận dụng phương pháp dạy học khám phá vào quá trình giảng dạy một số nội dung chương “Động lực học chất điểm” với mục tiêu phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh và nâng cao hiệu quả giảng dạy. Do đó đề tài: Vận dụng phương pháp khám phá trong dạy học một số nội dung chương “Động lực học chất điểm” vật lý 10 được triển khai lần này là lần đầu tiên.
Các nghiên cứu về lý luận của các giáo sư, tiến sĩ là cơ sở góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn này. Các khái niện cơ bản. Khái niệm về phương pháp dạy học khám phá. Hoạt động học tìm tòi, khám phá.
Richard Suchman, cha đẻ của chương trình học tập tìm tòi ở Mỹ thì học tập tìm tòi (Inquiry – based learning) là sự tìm hiểu tích cực những ý nghĩa liên quan đến các quá trình tư duy giúp biến những kinh nghiệm thành vốn kiến thức. Các nhà khoa học giáo dục của đại học Alberta lại quan niệm: Học tập tìm tòi là một quá trình, trong đó người học tham gia tích cực vào việc học tập, đưa TIEU LUAN MOI download 7: skknchat@gmail.com ra các câu hỏi, điều tra rộng rãi, từ đó xây dựng nên kiến thức mới. Kiến thức đó là mới với người học và họ có thể sử dụng nó giải quyết một số vấn đề nhất định, đưa ra một giải pháp trước một vấn đề cần giải quyết hoặc ủng hộ một quan điểm. Ở Việt Nam tác giả Trần Thúc Trình giải thích về học tập tìm tòi dựa trên mối quan hệ với khai phá (disscovery) và khám phá ( Investigation) đó là quá trình học sinh sử dụng những mối quan hệ giữa hiểu biết của mình về khoa học và logic để xác minh ý tưởng mới.
Như vậy, Hoạt động học tập tìm tòi, khám phá là quá trình trong đó người học tham gia tích cực vào việc học tập, đặt ra các câu hỏi, dựa vào các hành động có tính chất thực nghiệm, tương tác với các đối tượng học tập để trả lời các câu hỏi, phát hiện, xây dựng kiến thức mới. Dạy học khám phá. Có rất nhiều quan niệm về dạy học tìm tòi, khám phá đã được đưa ra:Dạy học tìm tòi là một quá trình dựa trên nền tảng tìm tòi, trong đó người học được định hướng các vấn đề, đặt ra các câu hỏi có ý nghĩa về chúng, quyết định làm thế nào để tìm ra câu trả lời phù hợp cho những câu hỏi, giao tiếp trao đổi kiến thức mới. Theo tác giả Đặng Thành Hưng (2002), thì dạy học kiến tạo tìm tòi là kiểu dạy học trong đó học sinh dựa vào các hành động có tính chất thực nghiệm, tương tác với đối tượng mà tìm hiểu, thu thập, sử lý các sự kiện, lĩnh hội kỹ năng, tức là học ngay trong quá trình thực hiện các thao tác, các thí nghiệm, vừa hành động vừa học.
68] Như vậy, tổng hợp từ các quan niệm về dạy học tìm tòi khám phá thì tôi cho rằng: Dạy học tìm tòi khám phá là dạy học mà trong đó giáo viên đề xuất các vấn đề thông qua các câu hỏi, các bài tập định hướng mà học sinh sẽ tiến TIEU LUAN MOI download 8: skknchat@gmail.com hành trao đổi, suy nghĩ, tự đề ra các giải pháp nghiên cứu, các thực nghiệm và tiến hành thực hiện để giải quyết các vấn đề đó. Bản chất của dạy học khám phá có tính tương đồng với dạy học giải quyết vấn đề, song điểm nỏi bật của phương pháp này là chú trọng tới vai trò định hướng của giáo viên để học sinh tự tìm tòi, tự khám phá kể cả việc đề xuất giải pháp, lên phương án và thực thi việc giải quyết vấn đề. Các mức độ của dạy học khám phá. Wenning, Chuyên viên Vật lý Sở Giáo dục Vật lý Illinois State University Normal thì một hoạt động dạy học được chia thành nhiều cấp độ, và vai trò tổ chức hoạt động học của học sinh sẽ đạt hiệu quả tốt khi người giáo viên biết nắm vững được kiến thức bài học và đặt ra nhiệm vụ học tập phù hợp với đối tượng học sinh.
Dựa theo mức độ tham gia của hoạt động tư duy và vai trò chủ động của học sinh và chủ đạo của giáo viên Wenning đã chia hoạt động dạy học khám phá theo các mức độ từ thấp đến cao như sau. Vai trò Vai trò Mức độ Nội dung của GV của HS Bằng những định hướng của 1.Thuyết trình và trao giáo viên từ các kinh nghiệm đổi các em có,các em sẽ trao đổi, (Interative thảo luận để tìm ra kiến thức demonstration) mới 2. Khám phá có HS đi khám phá cái mới của hướng dẫn (Guided kiến thức theo các câu hỏi định discovery) hướng của GV 3.Khám phá có HS được tiến hành các hoạt hướng dẫn(Guided động tìm tòi có sự tham gia TIEU LUAN MOI download 9: skknchat@gmail.com inquiry) hướng dẫn của giáo viên trong quá trình tìm tòi của HS Học sinh tự thực hiện các hoạt động học khám phá trước một 4.Khám phá trong số vấn đề mà giáo viên đưa giới hạn (Bounded ra.Trong hoạt động này, học Inquiry) sinh tự đề xuất giải pháp và thực hiện giải pháp mình đưa ra. Bằng một câu hỏi tổng quát(Ví dụ như:Vì sao lại coa vật nổi vật chìm khi được thả vào nước?)Học sinh sẽ tự đề xuất 5.Khám phá mở giả thiết, thực hiện việc loại bỏ (open inquiry) giải thiết không phù hợp, tiến hành thí nghiệm kiểm tra và cuối cùng là cho kết quả về việc có lực Ác xi mét và biểu thức cụ thể về lực này.1: Các mức độ của dạy học khám phá) Tuy nhiên, sẽ rất khó có thể xác định rằng có một mức độ học tập phù hợp cho một đơn vị kiến thức nào.
Nói cách khác, với một đơn vị kiến thức, tuỳ theo độ khó của kiến thức và khả năng của học sinh để giáo viên có thể đưa ra phương pháp tổ chức hoạt động học khám phá với mức độ phù hợp. Thông thường sẽ là một câu hỏi lớn, có hàm chứa nội dung kiến thức rộng, sau đó giáo viên sẽ có những câu hỏi gợi ý bổ sung làm thu hẹp dần phạm vi kiến thức cần TIEU LUAN MOI download 10: skknchat@gmail. Đi cùng với quá trình này chính là sự trao đổi, thảo luận giữa các học sinh, hoặc giữa giáo viên và học sinh để xây dựng và lựa chọn giả thiết phù hợp nhất cho thực hành kiểm chứng.Khái niệm về tính tích cực. Trongmôitrườnggiáodục,tíchcựcđượcdùngđểchỉsựtíchcựctronghọctậpđólà,n gười họcphảichủđộngkhámpháranhữngđiềuchưabiếtđốivớibảnthânvớimộtkhátvọng,mộ tsự cố gắngtrítuệvàmộtnghịlựccaotrongquátrìnhnắmvữngtrithức.
Tínhtíchcựctronghọctậpđượcthểhiệnởcáchoạtđộngkhácnhau:Hăngháiphátbi ểuý kiến xâydựngbài,chịukhótưduytrướccácvấnđềkhó,kiêntrìgiảiquyếtcácbàitậptheonhiềuc ách khácnhau.Dựavàocácbiểuhiệncủatínhtíchcựcmàtacóthểchialàmbamứcđộnhưsau: -Bắtchước:Học sinhbắtchướchànhđộng,thaotáccủagiáo viênvàbạnbè.Tronghànhđộngcósựcố gắngcủathầnkinhvàcơbắp.Vídụ:Học sinhcốgắnggiảiđượccácdạngbàitậpmàgiáo viênđãhướngdẫn giảitrênlớp. -Tìmtòi:Học sinhđộclập,tựgiáctrongtưduykhigiảiquyếtcácvấnđề,tìmkiếmcáccáchgiải quyếtkhácnhauvềmộtvấnđề. Đặc biệt với điều kiện thuận lợi để tiếp cận thông tin từ nhiều kênh như sách, báo, mạng internet… thì việc tìm kiếm thông tin của học sinh sẽ càng thuận lợi. - Sángtạo:HStìmcáchragiảiquyếtmới,độcđáo,đềxuấtnhữnggiảiphápcóhiệuquả,có sángkiếnlắpđặtnhữngthínghiệmđể chứngminhbàihọc.Tấtnhiên,mứcđộ sángtạo củaHS làcó hạnnhưngđólàmầmmốngcủasựsángtạosaunày.
Khái niệm về năng lực sáng tạo. TIEU LUAN MOI download 11: skknchat@gmail.com Năng lực sáng tạo là khả năng tạo ra những giá trị mới về vật chất và tinh thần, tạo ra cái mới, giải pháp mới, công cụ mới, vận dụng thành công những hiểu biết đã có vào hoàn cảnh mới. Năng lực sáng tạo gắn liền với kĩ năng, kĩ xảo và vốn hiểu biết của chủ thể, trong bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, càng thành thạo và càng có kiến thức sâu rộng thì càng nhạy bén trong dự đoán, đề ra được nhiều dự đoán và phương án lựa chọn. Vì vậy không thể hình thành năng lực sáng tạo tách rời, độc lập với hình thành kiến thức về một lĩnh vực nào đó.
Quá trình sáng tạo của con người thường bắt đầu từ ý tưởng mới, bắt đầu từ NLST của mỗi người. Những người có NLST thường có những đặc trưng sau: - Có tư duy độc lập, biết nhận xét, phê phán theo quan điểm riêng, không phụ thuộc và gò bó với cái cũ, không tư duy theo lối mòn. - Luôn đi vào vấn đề bản chất để tìm ra quy luật. - Có khả năng dự đoán và say sưa nung nấu ý tưởng mới.
- Luồn tìm ra được giải pháp tối ưu trước một tình huống mới, một vấn đề mới cần giải quyết.