CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về năng lực và dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực 1. Những vấn đề chung về năng lực a) Khái niệm năng lực Năng lực là tập hợp tất cả các kỹ năng, kiến thức, khả năng và hành vi mà một người có thể đáp ứng trong công việc và nó cũng là một trong những yếu tố quan trọng để một người có thể hoàn thành một việc gì đó hiệu quả hơn những người khác. “Năng lực” còn được được Hoàng Phê nhắc đến trong Từ điển Tiếng Việt do ông chủ biên theo hai nghĩa: (1) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó; (2) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao.660] Năng lực, hiểu theo nghĩa thứ nhất, là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một số kỹ năng nào đó của người học.
Hiểu theo nghĩa thứ hai, năng lực là một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Như vậy tờ hai nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu năng lực là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Khía cạnh hiện thực của năng lực là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành và đánh giá HS. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, định nghĩa “năng lực là khả năng đáp ứng hiệu quả các yêu cầu phức tạp trong một tình huống nhất định”.
Ngoài ra, Chương trình giáo dục phổ thông New Zealand còn khẳng định: “Năng lực là khả năng hành động hiệu quả hoặc phản ứng thích hợp trong những tình huống phức tạp nhất định”. 9 Tiếp thu quan niệm về năng lực của các nước phát triển, Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Việt Nam (2017) đã xác định: "Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác, như hứng thú, niềm tin, ý chí thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. [dẫn theo 33, tr.12] Có thể thấy cốt lõi của các tài liệu trên đều hiểu năng lực là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của HS để giải quyết những vấn đề, tình huống xảy ra trong cuộc sống. Từ đây chúng ta có thể thấy rằng năng lực phổ thông chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em.
b) Phân loại năng lực Năng lực có thể chia làm các nhóm: - Năng lực cốt lõi: là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kì ai cũng cần phải có để sống, học tập và làm việc hiệu quả. - Năng lực đặc biệt: là những năng khiếu về trí tuệ, văn nghệ, thể thao, kĩ năng sống…nhờ tố chất sẵn có ở mỗi người. Cũng theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, năng lực cốt lõi gồm năng lực chung và năng lực chuyên môn. - Năng lực chung: là năng lực được tất cả các môn học và hoạt động giáo dục góp phần hình thành, phát triển như: năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
- Năng lực chuyên môn: là năng lực được hình thành, phát triển chủ yếu thông qua một số môn học và hoạt động giáo dục nhất định như năng lực ngôn ngữ, năng lực tính toán, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực công nghệ, năng lực tin học, năng lực thể chất, năng lực thẩm mĩ…[ 33, tr. Dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực a) Một số phương pháp dạy học tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực Phương pháp dạy học hay còn gọi là phương pháp giáo dục, phương pháp giảng dạy. Phương pháp dạy học là cách thức hoạt động của GV khi thực hiện dạy học; quy định mô hình hoạt động của GV nhằm giúp HS chiếm lĩnh đối tượng và đạt được mục tiêu bài học. Có rất nhiều phương pháp dạy học chung, tuy nhiên mỗi môn học đều có những phương pháp đặc thù.
Dựa trên những yêu cầu của việc dạy học phát triển năng lực cho HS, người GV cần xác định được cho mình các phương pháp dạy học phù hợp các mục đích, nội dung của bài học. Việc đổi mới phương pháp dạy học cần có những điều kiện phù hợp về cơ sở vật chất, phương tiện, tổ chức dạy học, cũng như các điều kiện về tổ chức và quản lý. Ngoài ra, phương pháp giảng dạy còn mang tính chủ quan. Mỗi GV với kinh nghiệm của riêng mình cần phải tự tìm cách cải thiện phương pháp giảng dạy và kinh nghiệm bản thân.
Một trong những phương hướng cơ bản của đổi mới giáo dục là chuyển từ giáo dục hàn lâm, xa rời thực tế sang giáo dục chú trọng rèn luyện năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo. Nhìn chung, một hướng quan trọng của đổi mới phương pháp dạy học, nhất là ở tiểu học là phát huy tính tự lực, sáng tạo và rèn luyện khả năng hành động, hợp tác của HS. Đây cũng là xu hướng tất yếu của đổi mới dạy học trong nhà trường. Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực thể hiện ở các đặc điểm cơ bản sau: Một là dạy thông qua một chuỗi các hoạt động học tập để giúp HS tự khám phá những điều chưa biết, chứ không phải tiếp thu một cách thụ động những kiến thức đã được sắp xếp trước.
GV là người tổ chức, hướng dẫn HS hoạt động học tập nhằm khám phá kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc thực tiễn. Hai là chú trọng rèn luyện cho HS kỹ năng sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập, biết tự khám phá kiến thức, có lí do để tìm tòi, khám phá kiến thức mới. 11 Hướng dẫn HS tư duy về phương pháp phân tích, tổng hợp, đặc biệt, khái quát hóa, ,… Từng bước hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo. Ba là tăng cường sự phối hợp giữa học tập cá nhân và học tập hợp tác, để lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò để vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và nhóm để giải quyết vấn đề và giải quyết các nhiệm vụ học tập chung.
Bốn là chú trọng đánh giá kết quả học tập so với mục tiêu môn học thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập (đánh giá trên lớp) trong suốt quá trình dạy học. Chú trọng phát triển khả năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS, bằng nhiều hình thức khác nhau như làm theo câu trả lời/câu trả lời mẫu, hướng dẫn hoặc tiêu chuẩn để có thể phê bình, xác định nguyên nhân sai sót và đưa ra đề xuất sửa chữa chúng (thúc đẩy HS tự bộc lộ, tự thể hiện, tự đánh giá). b) Phân biệt dạy học định hướng nội dung và dạy học phát triển năng lực Dạy học theo chương trình nội dung và dạy học theo chương trình phát triển năng lực là hai quan điểm dạy học khác nhau. Phát triển năng lực HS là quá trình GV thực hiện thiết kế, tổ chức và phối hợp các hoạt động dạy học, tập trung vào đầu ra của quá trình này, tức là các năng lực mà người học cần đạt được ở các mức độ khác nhau sau một giai đoạn dạy học nhất định.
Thông qua học tập, người học tiếp nhận thông tin, biến nó trở thành kiến thức, kĩ năng của bản thân và sử dụng những điều đó vào giải quyết các tình huống cụ thể trong cuộc sống. Trong suốt quá trình đó, năng lực của người học không những được hình thành mà còn được phát triển. Điều đó mang lại cho người học những lợi ích lâu dài trong học tập, làm việc và dễ dàng ứng phó với những tình huống bất ngờ. Không những thế, năng lực cá nhân còn giúp người học thích nghi nhanh với môi trường sống xung quanh và làm việc một cách hiệu quả.
Chính vì vậy, việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực trở thành yêu cầu thiết yếu của sự cải cách giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực vừa có phẩm chất tốt đẹp vừa có năng lực vững vàng. 12 Để giúp hiểu rõ hơn bản chất của dạy học phát triển năng lực, chúng tôi xin làm phép so sánh giữa dạy học định hướng nội dung với dạy học phát triển năng lực như sau: Bảng 1. So sánh đặc điểm của dạy học định hướng nội dung và dạy học định hướng phát triển năng lực Dạy học theo Điểm so Dạy học theo định hướng STT định hướng nội dung, sánh phát triển năng lực trang bị kiến thức 1 Mục tiêu dạy - Chú trọng phát triển kiến - Chú trọng hình thành học thức, kỹ năng và thái độ, phẩm chất, năng lực thông mục tiêu dạy học được mô qua hình thành kiến thức, tả chi tiết, khó quan sát, kỹ năng; mục tiêu dạy học đánh giá. được mô tả cụ thể, có thể - Hướng đến việc ôn thi và quan sát, đánh giá được.
tập trung vào việc hiểu bài. - Học để sống, học để làm 2 Nội dung dạy - Nội dung được chọn lọc - Lựa chọn nội dung để đạt học dựa trên khoa học chuyên được kết quả đầu ra quy ngành, được trình bày chi định; chương trình chỉ xác tiết trong chương trình. - định nội dung chính. Nhấn mạnh vào hệ thống - Chú trọng kỹ năng thực kiến thức lý thuyết, sự phát hành để đưa lý thuyết vào triển tuần tự của các khái thực hành.
Sách giáo khoa niệm, định luật và lý thuyết không trình bày một hệ khoa học. Sách giáo khoa thống, mà phân nhánh và được trình bày liền mạch xen kẽ các kiến thức và hoạt hệ thống kiến thức. - Các quy định cứng nhắc - Nội dung khoa học ít chi về chi tiết chương trình dễ tiết, mang tính mở giúp GV 13 dẫn đến việc cập nhật dễ dàng cập nhật kiến thức không đầy đủ.