Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số giống thỏ có ở Việt Nam 1. Giống thỏ nội 1. Thỏ Ré Là giống thỏ được nuôi nhiều ở các địa phương, chúng có màu sắc lông da rất đa dạng, thường là màu xám nhạt loang trắng hay màu vàng nâu pha trắng.
Mắt thỏ màu đen. Khối lượng trưởng thành 2,2-2,7kg. Thỏ đẻ 5,5 - 6lứa/năm, mỗi lứa 6 - 7con, cai sữa ở 1 tháng tuổi nặng 300 - 350g/con. Thỏ đen Việt Nam Thỏ này có màu lông và mắt đen tuyền, đầu và mõm nhỏ, cổ không vạm vỡ nhưng thân hình chắc chắn, thịt ngon.
Khối lượng trưởng thành 3,2 - 3,5kg, thỏ mắn đẻ, mỗi năm đẻ 7 lứa, mỗi lứa 6 - 7con, Đặc điểm nổi bật của thỏ đen là sức chống đỡ với bệnh tật tốt, thích nghi tốt với điều kiện nuôi dưỡng thấp, khí hậu ở các vùng trong cả nước ta. Thỏ xám Việt Nam Thỏ có màu lông xám tro hoặc xám ghi. Riêng phần dưới ngực, bụng, đuôi có màu lông trắng. Mắt đen, đầu to vừa phải, lưng hơi cong, khối lượng trưởng thành nặng 3,5 - 3,8kg.
Thỏ đẻ khoẻ, mỗi năm 6 - 7 lứa và mỗi lứa 6 - 7con. Giống thỏ nhập nội 1. Thỏ New Zealand White (Tân Tây Lan trắng) Có nguồn gốc New Zealand, nuôi phổ biến ở Châu Âu, Châu Mĩ, được nhập vào Việt Nam từ Hungari năm 1978 và 2000, thuộc giống thỏ tầm trung mắn đẻ, 5 sinh trưởng nhanh, thành thục sớm, nhiều thịt, lông dày, trắng tuyền, mắt hồng, khối lượng trưởng thành từ 5-5,5 kg/con. Tuổi động dục lần đầu 4-4,5 tháng.
Tuổi phối giống lần đầu từ 5-6 tháng. Khối lượng phối giống lần đầu từ 3-3,2 kg/con. Đẻ 5-7 lứa/năm, 6-8 con/lứa. Khối lượng con sơ sinh 50-60g.
Khối lượng con cai sữa 650-700g. Tỷ lệ thịt xẻ từ 52-55%. Giống thỏ này thích ứng tốt với điều kiện chăn nuôi gia đình ở Việt Nam. Giống thỏ California Có nguồn gốc từ Mỹ, được lai tạo giữa 3 giống: thỏ Chinchila, thỏ Nga, thỏ New Zealand.
Là giống thỏ tầm trung, trọng lượng trung bình 4,5 - 5kg, thân ngắn hơn thỏ New Zealand, lông trắng nhưng tai, mũi, bốn chân và đuôi có điểm lông màu đen. Giống thỏ này được nuôi nhiều ở Việt Nam. Đặc điểm hình thái và cấu tạo cơ quan tiêu hóa của thỏ 1. Đặc điểm cấu tạo cơ quan tiêu hóa Hình 1.
Cấu tạo bộ máy tiêu hóa của thỏ 6 Ở thỏ trưởng thành (4 – 4,5kg hay 2,5 – 3kg) chiều dài hệ tiêu hóa có thể dài 4,5 – 5m. Sau ống thực quản ngăn là dạ dày đơn của thỏ chứa khoảng 60 – 80g thức ăn. Ruột non dài khoảng 3m và có đường kính 1cm. Cuối ruột non là tiếp giáp với manh tràng, bộ phận tích trữ và tiêu hóa thức ăn này có chiều dài khoảng 40 – 45cm với đường kính 3 – 4cm.
Nó chứa được 100 – 120g một hỗn hợp chất chứa đồng nhất với tỷ lệ chất khô khoảng 20%. Kể đến là một ruột già với chiều dài khoảng 1,5m. Hệ tiêu hóa thỏ phát triển nhanh trong giai đoạn thỏ đang tăng trưởng. Hai tuyến chính tiết dịch đổ vào ruột non là gan và tụy tạng.
Dịch mật thỏ chứa nhiều chất hữu cơ nhưng không có enzyme. Dịch tụy chứa những enzyme tiêu hóa protien (trypsin, chymotrypsin), tinh bột (amylase), và mỡ (lipase). * Dạ dày thỏ: Thỏ có dạ dày đơn giống như dạ dày ngựa, co giãn tốt nhưng co bóp yếu. Dạ dày thỏ luôn luôn chứa đầy thức ăn.
Nếu dạ dày lép kẹp hoặc chứa tạp chất thể lỏng là thỏ bị bệnh, phân thải ra sẽ nhão không thành viên. * Manh tràng: Manh tràng của thỏ là một túi mù thông với đoạn nối giữa ruột non và ruột già. Manh tràng của thỏ lớn hơn gấp 5 - 6 lần dạ dày và có khả năng tiêu hoá chất xơ nhờ hệ vi sinh vật cộng sinh gồm protozoa, nấm và vi khuẩn có lợi. Nếu một yếu tố nào đó làm mất cân bằng của hệ vi sinh vật cộng sinh này (như stress, cho uống kháng sinh, khẩu phần nhiều mỡ nghèo xơ, hay quá nhiều bột đường,…) thì các loại vi khuẩn gây hại sẽ phát triển và sản sinh ra độc tố có hại cho thỏ.
Nếu thiếu thức ăn thô thì dạ dày và manh tràng trống rỗng, gây cho thỏ có cảm giác đói. Nếu ăn thức ăn nghèo xơ hoặc ăn rau xanh, củ quả chứa nhiều nước, nẫu nát, dễ phân huỷ thì là thỏ rối loạn tiêu hoá như tạo nhiều khí, không tạo phân viên cứng, đường ruột căng đầy khí, đầy bụng và ỉa chảy. Khối lượng và thể tích các phần đường tiêu hóa Tên bộ phận Trọng lượng (g) Chất chứa (g) % so với cơ thể Dạ dày 23,1 94,0 4,2 Manh tràng 37,6 106 4,6 Kết tràng 28,3 39,8 1,3 Nguồn: (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000) [9] 7 Tỷ lệ dung tích của các phần đường tiêu hóa của thỏ cũng khác so với của các gia súc khác. Dạ dày của bò lớn nhất (71%) so với tổng đường tiêu hóa của nó.
Còn ở thỏ manh tràng lớn nhất (49%), cụ thể ở bảng 1. So sánh tỷ lệ dung tích của các phần đường tiêu hoá của các gia súc (%) Tên đoạn đường tiêu hóa Ngựa Bò Heo Thỏ Dạ dày 9,00 71,0 29,0 34,0 Ruột non 30,0 19,0 33,0 11,0 Manh tràng 16,0 3,00 6,00 49,0 Ruột già 45,0 7,00 32,0 6,00 Tổng số 100 100 100 100 Nguồn: (Nguyễn Quang Sức và Đinh Văn Bình, 2000) [9] Độ pH của các phần đường tiêu hoá ở thỏ cũng khác nhau: dạ dày rất chua, pH trung bình là 2,2. Vật chất khô của chất chứa dạ dày phụ thuộc vào dạng thức ăn, trung bình 17%. Chất chứa ruột non có pH = 7,2-7,9.
Manh tràng có pH = 6, vật chất khô là 23%. Kết tràng có pH = 6,6. Dịch mật và tuyến tụy có tác dụng cân bằng độ pH của ruột non. Tổng số vi khuẩn trong manh tràng là cao nhất.
Hoạt động lên men của vi khuẩn trong môi trường hơi chua sẽ tạo nên được nhiều axit béo bay hơi từ cellulose. Sự phát triển đường tiêu hóa theo lứa tuổi thỏ Cơ thể thỏ sinh trưởng đều đặn cho đến tuần tuổi thứ 11-12. Nhưng đường tiêu hóa (trừ gan) thì dừng phát triển ở tuần tuổi thứ 9. Từ tuần 3-9 khối lượng của từng đoạn ruột cũng thay đổi khác nhau.
Vào tuần thứ 3 ruột non nặng gấp đôi ruột già (manh tràng, kết tràng). Đến tuần thứ 9 thì khối lượng hai phần ruột đó đã tương đương nhau. Sự phát triển đoạn ruột già chỉ hoàn chỉnh khi có sự lên men vi khuẩn, khi thỏ chuyển sang ăn thức ăn cứng. 8 Phát triển về độ dài của các đoạn ruột thỏ cũng tương tự như phát triển khối lượng.
Độ dài của các đoạn ruột thỏ trưởng thành như sau: ruột non 327cm, manh tràng 38cm, đầu giun ruột thừa 13cm, kết tràng 128cm. Sinh lý tiêu hóa Động vật ăn cỏ chỉ có thể tiêu hóa chất xơ từ thức ăn thực vật bằng quá trình lên men vi khuẩn. Quá trình này ở động vật nhai lại xảy ra ở dạ dày và phần đầu ruột non. Ở thỏ và ngựa thì xảy ra ở manh tràng và ruột già.
Trong các trường hợp trên, sự tiêu hoá tinh bột tạo thành axit béo và hấp thụ vào đường máu thì đều giống nhau. Nhưng riêng sự hấp thụ axit amin thì có khác nhau: ở động vật nhai lại axit amin phân hủy và hấp thụ ngay ở dạ múi khế và ruột non. Đến phần ruột già, từ manh tràng axit amin không có khả năng hấp thụ được. Thỏ đã bổ sung sự khiếm khuyết đó bằng hiện tượng sinh lý ăn phân mềm (Caecotrophia).
Trong đường ruột của thỏ tạo thành hai loại phân: Loại phân bình thường viên tròn, cứng, thỏ không ăn thì gọi là phân cứng. Còn một loại phân mềm, nhiều viên nhỏ, mịn, dính kết vào nhau, khi thải ra đến hậu môn thì thường được thỏ cúi xuống ăn ngay, nuốt chửng vào dạ dày và trộn lẫn với chất chứa dạ dày, đẩy dần vào ruột non và được hấp thu các chất dinh dưỡng ở đó, đặc biệt là vitamin B, trường hợp này gọi là thỏ ăn phân lại hay người ta còn gọi thỏ là động vật ăn lại. Thành phần hóa học của hai loại phân thỏ Thành phần hoá học Phân cứng Phân mềm Vật chất khô (%) 58,3 27,1 Protein thô (%) 13,1 29,5 Chất béo thô (%) 2,60 2,40 Chất xơ thô (%) 37,8 22,0 Khoáng tổng số (%) 8,90 10,8 Chiết chất không đạm (%) 37,7 35,1 Nguồn: (Nguyễn Văn Thu, 2003) [12] 9 Phân cứng có vật chất khô cao hơn, nhưng hàm lượng protein lại nhỏ hơn phân mềm. Thỏ con còn bú mẹ không có hiện tượng ăn phân, hiện tượng này chỉ bắt đầu hình thành khi thỏ đến 3 tuần tuổi.
Phân cứng còn gọi là phân ban ngày, phân mềm còn gọi là phân ban đêm. Như vậy thỏ ăn phân mềm trong môi trường yên tĩnh. Đặc điểm tiêu hóa của thỏ nuôi 1. Sử dụng năng lượng Năng lượng mất đi trong phân nói chung từ 25-45% năng lượng thô khẩu phần.
Do sinh lý tiêu hoá của thỏ, các thành tố vách tế bào là những thành phần hoá học chính liên quan đến sự tiêu hoá năng lượng thức ăn (Santomas và cs, 1987) [38] Theo Spreadbury (1978) [40] thì sự thất thoát năng lượng qua nước tiểu thay đổi từ 4-8 % DE khẩu phần với sự biến động lớn của cả hai mức độ xơ và protein (4-33% ADF và 16-28% CP). Sự thất thoát năng lượng này không liên quan đến mức độ xơ trong các khẩu phần được cân bằng năng lượng/protein, vì vậy, 6% DE có thể là mức năng lượng thất thoát trung bình qua nước tiểu. Các tác giả khác nhau như De Blas và cs,1986 [21] đã xác định mức độ năng lượng hữu hiệu cho sự tổng hợp protein và chất béo có giá trị lần lượt là 38-45% và 64-70%. De Blas và cs, (1984) [20] đề nghị mức độ năng lượng hữu hiệu trung bình cho tăng trưởng (kg) là 56%.
Sự sản sinh nhiệt lượng tổng số tăng lên với khẩu phần có tỷ lệ xơ từ 0,37-1,5% trên một đơn vị ADF gia tăng (De Blas và cs,1986) [21] Sự tương quan này có lẽ do sự gia tăng các giá trị tiêu hoá và các hoạt động lên men ở manh tràng khi sử dụng khẩu phần nhiều xơ. Nhiệt lượng tạo ra cũng tuỳ thuộc vào hàm lượng protein trong khẩu phần (De Blas và cs,1986 [21] đã chứng minh mối quan hệ âm giữa các thông số này (0,33% nhiệt sản sinh gia tăng/1 đơn vị protein thô gia tăng) với khẩu phần sử dụng có mức protein thô từ 12-18%. Kết quả này có thể do một lượng lớn protein được dị hoá khi mức độ của nó trong khẩu phần tăng lên.