CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ DỰ BÁO THỦY VĂN HẠN VỪA TRONG MÙA CẠN 1.1 Một số đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội của lưu vực sông Sê San 1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội [1. Vị trí địa lý: Sông Sê San bắt nguồn từ vùng núi Ngọc Linh, tỉnh Kon Tum. Trên lãnh thổ Việt Nam sông có chiều dài 230km, diện tích lưu vực là 11.620km2, là phụ lưu cấp 2 của sông Mê Kông đổ vào phụ lưu cấp 1 - sông Sê Rê Pôk.1: Vị trí lưu vực sông Sê San Toàn bộ lưu vực sông Sê San thuộc sườn phía Tây của dãy Trường Sơn, có tọa độ địa lý 13045’ đến 15014 vĩ độ Bắc, 107010’ đến 108024’ kinh độ Luan van 4 Đông; Phía Bắc giáp lưu vực sông Thu Bồn; phía Nam giáp lưu vực sông Ba, IaDrăng; phía Đông giáp lưu vực sông Trà Khúc; phía Tây giáp Lào và Cam Pu Chia; phía Tây Nam giáp sông Sê Rê Pôk.
Lưu vực sông Sê San chiếm 46,3% diện tích tự nhiên của hai tỉnh Kon Tum và Gia Lai, trong đó chiếm 87,61% diện tích toàn tỉnh Kon Tum và 20,63% diện tích toàn tỉnh Gia Lai, thuộc đất đai của 16 huyện, thành phố: Đăk Glei, Đăk Tô, Đăk Hà, Ngọc Hồi, Sa Thầy, IaH’ĐRai, Kon Plông, Kon Rẫy, Tu Mơ Rông, thành phố Kon Tum của tỉnh Kon Tum; các huyện Kbang, Đăk Đoa, Chư Pah, Ia Grai, Đức Cơ, thành phố PleiKu của tỉnh Gia Lai. Đặc điểm địa hình: Lưu vực sông Sê San có độ cao trung bình 737m, địa hình có hướng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây, rất dốc ở phía Bắc, Đông Bắc và tương đối bằng phẳng ở phía Nam. - Địa hình đồi, núi: Chiếm khoảng 3/5 diện tích toàn lưu vực, bao gồm những đồi núi liền dải có độ dốc 150 trở lên. Các núi ở Kon Tum và Gia Lai do cấu tạo bởi đá biến chất cổ nên có dạng khối như khối Ngọc Linh (có đỉnh Ngọc Linh cao 2.
Địa hình núi cao liền dải phân bố chủ yếu ở phía Bắc, Tây Bắc chạy sang phía Đông các tỉnh Kon Tum, Gia lai. Các ngọn núi cao như: Ngọn Bon San (1.939m); ngọn Ngọc Kring (2. Mặt địa hình bị phân cắt hiểm trở, tạo thành các thung lũng hẹp, khe, suối. - Địa hình thung lũng: Nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía Nam và sông Đăk Bla đi về phía Tây của tỉnh Kon Tum; thung lũng có dạng lòng máng thấp dần về phía Tây Nam, theo thung lũng có những đồi lượn sóng như Đăk Uy - Đăk Hà và có nhiều chỗ bề mặt bằng phẳng như khu vực thành phố Kon Tum.
Ngoài ra còn có thung lũng Sa Thầy được hình thành giữa các dãy núi kéo dài về phía đông chạy dọc biên giới Việt Nam - Campuchia. - Địa hình cao nguyên: Có cao nguyên Kon Plong nằm giữa dãy An Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1.300m, chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng: Lưu vực sông Sê San nằm trên cao nguyên Gia Lai - Kon Tum, một trong những cao nguyên lớn của Tây Nguyên, xuyên cắt qua nhiều địa tầng có Luan van 5 nguồn gốc khác nhau, bao gồm đá trầm tích và biến chất Macma. Từ thành phố Kon Tum và dọc sông Pô Kô thuộc loại trầm tích lục nguyên; từ TP.
Kon Tum đến Đăk Tô - Tân Cảnh có các trầm tích Neogen gắn kết yếu, thỉnh thoảng gặp các bồn trũng nhỏ nằm rải rác dọc sông và được lấp đầy bằng trầm tích đệ tứ bở rời. Lưu vực nằm trong đới kiến tạo Ngọc Linh - Kon Tum, phía Bắc giáp đới Trường Sơn, phía Tây giáp đới SêKông, phía Nam giáp đới SrêPôk – Đà Lạt và phía Đông giáp đới sông Ba. Đặc điểm thảm phủ thực vật: Theo số liệu về phân bố đất lâm nghiệp và đất có rừng của hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum đến năm 2016 diện tích đất có rừng trên lưu vực sông Sê San vào khoảng tỉnh là 699,8 nghìn ha, độ che phủ rừng đạt 60%. Trong đó, rừng phòng hộ chiếm khoảng 30%, còn lại là rừng khai thác, rừng trồng và cây công nghiệp dài ngày.
Đặc điểm kinh tế-xã hội: - Dân số: Tính đến cuối năm 2016 tổng dân số sinh sống trên lưu vực vào khoảng 545. Mật độ dân số bình quân là 47 người/km2, nhưng phân bố không đồng đều, cao nhất là ở thành phố Kon Tum với 372 người/km2, thấp nhất là huyện IaH’Drai với 7 người/km2. - Phát triển kinh tế: Kinh tế của các địa phương trên lưu vực sông Sê San vẫn chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và khai khoáng (chủ yếu là khai thác thủy năng). Cơ cấu phát triển kinh tế đang dịch chuyển theo hướng giảm dần về tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trong công nghiệp, dịch vụ.
Tuy nhiên đến thời điểm hiện tại và trong tương lai gần kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào nông nghiệp và khai thác thủy năng nên đã gây áp lực lớn cho nguồn nước, nhất là dòng chảy của sông, suối trong mùa cạn.2 Đặc điểm mạng lưới sông, suối: Lưu vực sông Sê San có hình nan quạt với mật độ lưới sông bình quân là 0,38km/km2; lưới sông phát triển không đều: Vùng núi cao phía Bắc và Đông Bắc của lưu vực (thuộc địa bàn các huyện Đăk Glei, Tu Mơ Rông, Kon Plong – tỉnh Kon Tum) nơi có lượng mưa lớn (trên 2.000mm/năm) nên sông suối phát triển mạnh, có mật độ đạt tới 1,5km/km2. Ngược lại ở các vùng tương Luan van 6 đối bằng phẳng, lượng mưa bé, mật độ lưới sông nhỏ nhất chỉ đạt khoảng 0,22km/km2. * Các nhánh sông chính hợp thành sông Sê San bao gồm: + Sông Pô Kô dài 121km, diện tích lưu vực 3.530km2, bắt nguồn từ vùng núi cao Ngọc Linh có đỉnh cao 2. Đoạn thượng nguồn mang đặc điểm sông miền núi chảy trong thung lũng hẹp với độ dốc khoảng 13,3‰.
Đoạn trung lưu thoải hơn có lòng sông mở rộng hơn và co độ dốc khoảng 8,5‰. Đổ vào sông Pô Kô có 10 nhánh sông chính có độ dài từ 10 đến 81km. + Sông Đăk Bla là nhánh trái của sông Sê San có chiều dài sông chính là 157km, diện tích lưu vực 3.436km2; Độ cao thượng nguồn của sông là 1.650 m, tại vị trí nhập lưu vào sông Sê San là 510m. Sông Đăk Bla chảy theo hướng Đông Bắc - Tây Nam và hợp với sông Sê San cách đập thủy điện Ialy 16km về phía thượng lưu.
Từ phần trung lưu đến chỗ hợp lưu với sông Pô Kô, sông chảy trên cao nguyên cổ Kon Tum với độ dốc trung bình khoảng 7,26‰, lòng sông uốn khúc, nhiều ghềnh, thung lũng có nhiều lòng cũ (đoạn sông chết) và bãi bồi, mang nét điển hình của sông đồng bằng. Đổ vào sông Đăk Bla có 18 nhánh sông suối chính, có độ dài từ 10 – 70km. + Sông Sa Thầy dài 115km, diện tích lưu vực 1.471km2, bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Rinh Rua, chảy theo hướng Bắc - Nam, gần như song song với biên giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San. Đặc trưng hình thái các sông chính thuộc lưu vực sông Sê San Diện tích Chiều Mật độ Hệ số Độ dốc Độ cao Sông LV (km2) dài lưới sông uốn đáy sông bq (m) (km) (km/km2) khúc (%o) Đăk Psi 869 80,5 0,42 1,74 7,1 1.450 237 0,38 1,45 13,2 737 Luan van 7 Hình 1.
Các nhánh sông chính hợp thành sông Sê San 1.3 Đặc điểm khí hậu, thủy văn: Lưu vực sông Sê San nằm trên vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cao nguyên, khí hậu được chia làm hai mùa tách biệt với sự tương phản sâu sắc. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với thời tiết ẩm ướt, mưa nhiều. Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời tiết khô, ít mưa. Tương ứng với hai mùa khí hậu nói trên là hai mùa thủy văn: Mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11 hàng năm và mùa cạn từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau.
Khí hậu: - Nhiệt độ: Lưu vực sông Sê San có chế độ nhiệt tương đối hiền hòa, ít biến động. Biên độ dao động nhiệt độ của tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất không lớn; biên độ dao động của các tháng kế tiếp nhau thay đổi từ từ thể Luan van 8 hiện tính ôn hòa của vùng cao nguyên. Chênh lệch nhiệt độ trong ngày của các tháng mùa khô từ 120C đến 140C, các tháng mùa mưa từ 70C đến 80C. Sự phân bố nhiệt độ trên lưu vực sông có sự giảm dần từ hạ lưu lên thượng nguồn, từ Tây Nam sang Đông Bắc.
Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất xảy ra vào tháng 4 hoặc tháng 5; thấp nhất xảy ra vào tháng 12, tháng 1. - Độ ẩm: Chế độ ẩm trên lưu vực sông Sê San có sự tương phản giữa hai mùa (mùa mưa và mùa khô). Mùa khô trên lưu vực sông có độ ẩm trung bình tháng < 78%, mùa mưa độ ẩm trung bình đạt trên 80%. Theo không gian, độ ẩm giảm dần từ thượng lưu về hạ lưu.
- Bốc hơi: Tổng lượng bốc hơi tại trên lưu vực sông Sê San có sự thay đổi lớn theo mùa. Mùa khô ít mưa, độ ẩm thấp, gió mạnh nên lượng bốc hơi cũng lớn, phổ biến đạt 110 - 170mm/tháng. Ngược lại trong các tháng mùa mưa, độ ẩm không khí cao, vận tốc gió không lớn nên lượng bốc hơi đạt thấp, phổ biến từ 50 - 100mm/tháng. Gần như toàn bộ thời gian của mùa khô có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa; xét theo mùa dòng chảy thì lượng bốc hơi của thời kỳ đầu và giữa mùa cạn lớn hơn lượng mưa.
Gió: Chế độ gió trên lưu vực sông Sê San được đặc trưng bởi sự luân phiên tác động của các hệ thống hoàn lưu gió mùa, sự luân phiên đó tương đối ổn định và có trình tự. Thời kỳ gió mùa Đông Bắc, từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau với sự ảnh hưởng chính của tín phong Đông Bắc, khi vào địa bàn tỉnh Gia Lai và Kon Tum có hướng Đông và Đông Bắc. Hướng gió này thịnh hành trong suốt mùa khô với tần suất 60 - 70%, hoạt động mạnh nhất là vào tháng 12, tháng 1 hàng năm. Thời kỳ gió mùa Tây Nam, từ tháng 5 đến tháng 10; càng vào giữa mùa mưa hệ thống gió mùa Tây Nam phát triển càng mạnh khống chế toàn bộ lưu vực sông Sê San.
Thời kỳ gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh nhất là tháng 7 và tháng 8. Thời kỳ chuyển tiếp giữa hai loại gió Đông Bắc và Tây Nam, trên đại bộ phận của lưu vực gió đổi hướng liên tục, đôi khi xuất hiện lặng gió. Thời kỳ này tốc độ gió trung bình đạt thấp nhất.