Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1/ Các khái niệm cơ bản về khuyết tật và tình hình NKT : 1.1 / Khuyết tật và quá trình dẫn đến khuyết tật: Sau khi cơ thể có bệnh, nếu không được điều tộ sớm và hiệu quả thì có thể dẫn đến một số hậu quả như khiếm khuyết, giảm chức năng, tàn tật. Các giai đoạn dẫn đến tàn tật bao gồm: Khiếm khuyết: là tình trạng mất một phần cơ thể hay bất bình thường về tâm lý, sinh lý, cấu trúc giải phẫu hoặc liên quan đến chức năng của một phần thân thể. Giảm chức năng: Là tình trạng gây nên sự giảm sút phạm vi hoạt động chức năng của các cơ quan trong cơ thể ở mức độ thân thể. Việc hạn chế thực hiện các chức năng có thể do hậu quả của khiếm khuyết, bệnh tật hoặc môi trường.
Tàn tật: Là tình trạng giảm hoặc mất một hay nhiều chức năng của một cá thể nên họ không thể tham gia các hoạt động xã hội thông thường, từ đó làm giảm chất lượng cuộc sống của họ. Nguyên nhân có thể là do giảm khả năng hoặc các yếu tố cản frở của môi trường, văn hóa, xã hội.2 / Phân loại tàn tật: Hiện tại, bộ y tế Việt Nam đang sử dụng phân loại tàn tật của tổ chức Y tế Thế giới, gồm 7 nhóm khuyết tật khác nhau áp dụng chung cho cả người lớn và ữẻ em: (l)Khó khăn về vận động; (2)Khó khăn về nghe/nói; (3)Khó khăn về học; (4)Khó khăn về nhìn; (5)Mất cảm giác; (6)Động kinh; (7)Hành vi xa lạ.3 / Các nguyên nhân gây ra tàn tật: Hậu quả của bệnh có thể khiến người bệnh bị mất khả năng và mang thương tật. Nhưng frong lĩnh vực phục hồi, cần phân biệt nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây ra tàn tật. Nếu là hậu quả trực tiếp của bệnh, đó là thương tật sơ cấp.
Nhưng nếu là hậu quả gián tiếp, đó là những thương tật thứ cấp. Những thương tật sơ cấp là hậu quả trực tiếp của tiến ttình bệnh đó: rối loạn bẩm sinh, bệnh, chấn thương. Tình trạng bệnh của bất kỳ hệ thống cơ quan nào cũng có thể đưa tới I 5 thương tật sơ cấp. Có khi một nguyên nhân bệnh có thể đưa tới nhiều thương tật.
Chẳng hạn như tai biến mạch máu não có thể gây đồng thời liệt bán thân, mất định hướng và thất ngữ. Đôi khi nhiều nguyên nhân bệnh có thể gây ra nhiều thương tật: ví dụ như người bệnh bị tai biến mạch máu não thường kèm theo bệnh tim mạch và đái tháo đường. Những thương tật thứ cấp của người bệnh hoặc do bất động, hoặc do hoạt động không đúng cách gây nên các tổn thương. Các hội chứng không dùng để chỉ các thương tật thứ cấp do hậu quả của bất động.
Các hội chứng dùng sai để chỉ những thương tật thứ cấp do hoạt động không đúng cách. Thường thì cả hai loại thương tật thứ cấp này đều có thể tránh được. Sự phòng tránh phải bắt đầu tức thời ngay khi chăm sóc người bệnh. Phòng tránh các thương tật thứ cấp dễ dàng hơn là phải đương đầu với hậu quả của nó.
Trong nhiều trường hợp tình hình có thể không đảo ngược được khiến người bệnh bị tàn phế và hở thành bị lệ thuộc suốt đời. Các nguyên nhân của hội chứng không dùng bao gồm cường bức nghỉ ngơi hên giường trong thời gian bệnh hoặc dưỡng bệnh, hạn chế hoạt động do thói quen nghề nghiệp, rối loạn tâm thần đưa tới bất động, bất động do máng nẹp, bó bột, liệt, cứng khớp, đau, mất cảm giác. Các bệnh mãn tính thường là nguyên nhân gây nên tàn phế là do hậu quả của tình trạng không dùng. Hậu quả của tình trạng này không chỉ ảnh hưởng trên thể chất mà còn gây ra những xáo hộn về mặt tâm thần.
Hậu quả nổi bật nhất là teo cơ. Nếu một cơ hay một nhóm cơ không vận động, sau một thời gian nào đó nó sẽ giảm thể tích. Điều này rất dễ nhận thấy sau khi bệnh nhân cắt bột, cơ bị teo nhỏ, yếu khiến người bệnh không cử động được. Co rút khớp là giới hạn tầm vận động khớp do sự rút ngắn của các mô mềm quanh khớp, do hiện tượng không dùng, khớp không di động hết tầm độ đã đưa tới hậu quả này.
Các rối loạn biến dưỡng như loãng xương do sự bất động và do thiếu sức căng kéo của cơ, hoặc do tình trạng không chịu sức nặng dẫn đến tình hạng như đau, dễ gãy xương, tạo sạn trong đường tiểu. Sạn trong đường tiểu do nhiều nguyên nhân như do tăng bài tiết canxi trong nước tiểu, do xương bị mất khoáng, nước tiểu ứ đọng hay nhiễm trùng đường tiểu. I 6 Rối loạn tuần hoàn như giảm huyết áp thế đứng do sụt huyết áp đột ngột khi tình ữạng người bệnh nằm lâu chuyển sang thế đứng, tình trạng này có the làm người bệnh ngất xỉu và có thể chết đột ngột. Tình ữạng huyết khối tĩnh mạch do hai chi dưới thiếu di động gây nên có thể đưa đến nghẽn mạch phổi làm chết người bệnh.
Viêm phổi ứ đọng do nằm lâu một tư thể. Loét nằm hay loét đè do đè ép kéo dài và quá mức dẫn tới hoại tử mô. Suy sụp tinh thần do người bệnh nằm lâu và có thể trở nên lệ thuộc không thích hoạt động và buồn chán. Chính sự thay đổi này làm trầm frọng thêm như ăn mất ngon, không kiềm chế được sự bài tiết, mất khả năng tiếp xúc.
Ngoài sự bất động là nguyên nhân chính đưa tới nhiều loại thương tật thứ cấp, còn phải kể tới một số thương tật do hậu quả của sự hoạt động không đúng cách. Rõ rệt nhất là hoạt động dùng không đúng cách của người bệnh Hansen có bàn tay, bàn chân mất cảm giác đã đưa tới những tàn phế ừầm ừọng. Những hội chứng dùng sai thường gặp do chấn thương hay do liệt là đau vai tiếp sau liệt đai vai, khớp gối ưỡn do liệt, khớp không vững tăng tiến frong các trường hợp viêm khớp.4 / Hậu quả của khuyết tật: Khuyết tật gây ra nhiều hậu quả nghiêm ừọng về mật vật chất, tinh thần và xã hội. NKT thường bị phân biệt đối xử, không tự tiếp cận được các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục, dạy nghề; vì vậy NKT không thể khẳng định và phát huy các tiềm năng và khó có khả năng hòa nhập với xã hội như người bình thường.
Bên cạnh đó, NKT luôn có tâm lý mặc cảm, tự ty và không tin tưởng vào khả năng của chính mình. So với người bình thường, NKT thường có nhiều bệnh tật hơn và khả năng thích nghi với cuộc sống thấp hơn. Đại đa số Gia đình có NKT thường cũng là những gia đình nghèo tại cộng đồng do họ phải chi phí nhiều cho quá ữình khám, chữa bệnh cho NKT. Các thành viên frong gia đình thường mặc cảm về NKT và không nhận được sự cảm thông chia sẻ của mọi người frong cộng đồng.
NKT cần có các dịch vụ xã hội đặc biệt để chăm sóc. Ngoài ra, khuyết tật làm tăng các chi phí trong các nghành y tế, giáo dục do triển khai các dịch vụ đáp ứng nhu cầu của NKT.5 / Tình hình NKT: Có nhiều cuộc điều fra ở các nước công nghiệp cho thấy tỷ lệ tàn tật chiếm khoảng 10% dân số. số lượng NKT đang gia tăng do tăng dân số, lão hóa,.và do các tiến bộ về y tế giữ gìn và kéo dài cuộc sống [24], Ở các nước đang phát triển có gần 100 cuộc điều tra nghiên cứu, rất khó so sánh kết quả của các nghiên cứu đó do sử dụng các phương pháp khác nhau nhưng tỷ lệ tàn tật khoảng 7- 10% dân số, ít hơn sự ước tính đối với các nước công nghiệp phát triển. Tỷ lệ một số dạng khuyết tật ở các nước đang phát triển cao hơn ở các nước phát triển, những NKT ở đây có tuổi thọ ngắn hơn do có các yếu tố quan trọng nhất đối với tử vong đang tồn tại [6], do đó NKT có nguy cơ tử vong cao hơn nhiều, đó là lý do lý giải tại sao tỷ lệ NKT ở đây thấp.
Trong một nghiên cứu gần đây, so sánh một chương trình PHCNDVCĐ chạy với phương pháp điều trị ở bệnh viện đa khoa cung cấp cho bệnh nhân tổn thương tủy sống tại Bangladesh, nghiên cứu của Momin cung cấp bằng chứng mạnh mẽ nhất để chứng minh rằng phương pháp phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng hiện có hiệu quả [26], Ở một số nước đang phát triển hầu hết các trẻ em sinh ra bị tàn tật hay mắc phải khuyết tật đều không sống đến 20 tuổi. Tương tự, những NKT lớn thường cũng không sống lâu được, do đó tỷ lệ khuyết tật ở các nước này thường thấp hơn ở các nước công nghiệp phát triển. Dựa vào cơ sở điều tra, người ta ước tính có khoảng 100- 120 triệu NKT ở các nước đang phát triển (2,5- 3% dân số) cần phải được PHCN và con số này ngày càng tăng lên qua hàng năm. Ở Việt Nam, theo báo cáo của Bộ lao động - Thương binh và xã hội thì hiện nay ước tính cả nước có khoảng 5,1 triệu NKT, chiếm khoảng 6% dân số cả nước [3] [7], Tần suất tử vong và mắc bệnh của đại đa số NKT thường lớn hơn nhiều so với người không tàn tật, Ở đây thường do thiếu sự quan tâm của xã hội và các yếu tố môi trường không thuận lợi gây ra.
Sự tiếp cận các dịch vụ cộng đồng của NKT còn kém và họ ít có cơ hội bình đẳng giống những công dân khác như các dịch vụ về giáo dục, y tế, chương trình đào tạo năng khiếu, giáo dục hướng nghiệp và việc làm. Một bộ phận không nhỏ NKT chưa biết chữ với tỷ lệ 35,58% chung cho toàn quốc, riêng cho khu vực nông thôn là 36,9% [7], Sự khác biệt giữa các dịch vụ cần thiết và các dịch vụ 8 đã cung cấp gây nên tình hạng khó xử. Sau một thời gian kiên trì người ta nhận thấy sự phát hiển PHCN dựa vào các chuyên khoa, các bệnh viện không thể đáp ứng nhu cầu PHCN cho NKT mà phải phát triển theo hình thức dựa vào cộng đồng, vì vậy nhiều quốc gia trên thế giới đã phát hiển chương hình PHCNDVCĐ. Trên thực tế nó thực sự hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu của nhiều NKT không có khả năng tiếp cập đến các cơ sở y tế chuyên sâu và có khoảng 70 % nhu cầu của NKT có the giải quyết được tại cộng đồng [6], Năm 1991 Hội PHCN Việt Nam được do PGS.
TS Nguyễn Xuân Nghiên và PGS.TS Trần Trọng Hải đứng ra thành lập, đánh dấu một bước trưởng thành của ngành PHCN.