mở đầu cho văn học Việt Nam hiện đại, có tầm ảnh hưởng vô c 11 cùng sâu sắc và to lớn đối với lớp nhà văn đương thời và hậu thế. Nhiều văn sĩ như Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu, Tú Mỡ, Nguyễn Tuân, Nguyễn Triệu Luật (nhà viết tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng) đều thừa nhận mình chịu ảnh hưởng nhiều từ Tản Đà [35, tr 151]. “Cơn gió lạ Tản Đà” [53] thực sự đã mang đến cho thi đàn văn học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX một không khí tươi mới, giàu sức sống. Khái lược về “phong vị” và “phong vị” trong thơ ca “Phong vị” (風味)vốn là một từ Hán Việt.
Theo Từ điển của tác giả Nguyễn Quốc Hùng, “phong vị” chỉ sự thích thú và ý nghĩa cao đẹp của một sự việc nào đó. Truyện “Hoa Tiên” có câu: “Nói chi phong vị lâu đài, vả trong khách huống lữ hoài biết sao”. Trong trường hợp khác, “phong” được hiểu là gió; “vị” là mùi, mùi thơm: “Nam Trung quất cam, thái chi phong vị chiếu toạ” (Nam trung quýt ngọt, hái xuống hương thơm ngào ngạt cả chỗ ngồi ). “Phong vị” lại có nghĩa người phong lưu học thức rộng.
Tống thơ: “Bá Ngọc ôn nhã hữu phong vị, hòa nhi năng biện, dự nhân cộng sự giai vi thâm giao”(Bá Ngọc người ôn hòa, thanh nhã, có phong vị, người hòa nhã có tài biện luận, cùng cộng sự với ai đều trở nên thâm giao cả) [56]. Theo từ điển Tiếng Việt [51]“phong vị” là nét sắc thái riêng, đặc sắc, có thể cảm nhận được, ví dụ “phong vị làng quê”, “phong vị Tết cổ truyền”, “phong vị ca dao” [51, tr. Từ đó, có thể hiểu: “phong vị” là màu sắc, dáng vẻ, hương vị độc đáo, khác lạ, tạo thành bản sắc của một đối tượng nào đó. Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn cách định nghĩa theo Từ điển Tiếng Việt [51] để lý giải và bàn luận về “phong vị” trong sáng tác của các tác giả văn học, đặc biệt là “phong vị An Nam” trong thơ ca Tản Đà.
Văn học cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX phát triển trong sự kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống của văn học dân tộc, đồng thời các tác giả c 12 chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây đã tìm cho mình một phương thức sáng tác mới lạ khi chuyển tải những đề tài xưa cũ. Trong cuộc cách tân ấy, mỗi tác giả lại lựa chọn một phương thức diễn đạt, một giọng điệu riêng, tạo nên bản sắc của mỗi người. Phan Bội Châu - lãnh tụ của phong trào Duy tân có những trang thơ văn yêu nước cùng những cách tân văn chương độc đáo, đã trở thành khuôn thước cho một giai đoạn sáng tác. Các nhà thơ khác như Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nguyễn Thiện Kế, Kép Trà,.
lại lựa chọn thơ trào phúng cùng những hình thức biểu hiện mới để dự góp vào sự phát triển của nền văn học nghệ thuật nước nhà trong bối cảnh xã hội mới. Họ thực sự đã làm một cuộc cách tân trong thơ ca, tạo tiền đề cho sự phát triển như vũ bão của phong trào Thơ Mới đầu thế kỉ XX với những tên tuổi nổi danh như: Xuân Diệu, Phan Khôi, Lưu Trọng Lư, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên. Song, điều đáng nói, cho dù lựa chọn hình thức diễn đạt mới mẻ, khác lạ như thế nào thì mỗi nhà thơ đều có ý thức gìn giữ “phong vị” dân tộc - điều làm nên bản sắc riêng có của quê hương xứ sở. Trong thơ ca truyền thống từ cổ chí kim, “phong vị” dân tộc được thể hiện rất rõ trong sáng tác của nhiều nhà thơ như Nguyễn Khuyến, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Tản Đà hay Tố Hữu.
Tác giả Nguyễn Khuyến, người được mệnh danh là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam, nổi tiếng với nhiều bài thơ thấm đẫm phong vị quê hương, xứ sở, đặc biệt là chùm thơ thu ba bài Thu điếu (Mùa thu câu cá), Thu ẩm (Thu uống rượu), Thu vịnh (Vịnh thu). Màu sắc làng quê đồng bằng Bắc Bộ hiện lên mộc mạc, chân thực, sinh động, rất đỗi quen thuộc qua hình ảnh: ao thu, chiếc thuyền câu bé tẻo teo, ngõ trúc quanh co. Người đọc ấn tượng với màu xanh rợn ngợp (xanh nước, xanh trời, xanh lá, xanh bèo, xanh trúc, .), điểm vào đó là sắc vàng của chiếc lá thu rơi (Thu điếu). Đó là “Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt/ Làn ao lóng lánh bóng trăng loe” (Thu ẩm); là bầu trời thu cao rộng thăm thẳm: c 13 Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao/ Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu (Thu vịnh).
Khung cảnh làng quê hiện lên với những nét chấm phá thực đơn giản mà hài hòa, toàn bích; từ đường nét, hình ảnh, màu sắc, âm thanh đều sinh động, giàu sức sống, gần gũi với mỗi người thôn quê. Trên nền không gian ấy, con người xuất hiện với nỗi niềm thế sự. Cảnh thu đẹp nhưng buồn. Song điều đáng nói, nỗi buồn ấy không bi lụy, sầu thảm, ngược lại, đó là nỗi buồn của một con người có trí tuệ, nhân cách và phẩm chất cao đẹp.
Cảnh thu và tình thu ấy là đặc trưng riêng có của xứ An Nam ta. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ta cũng bắt gặp phong vị làng quê qua những hình ảnh đời thường, gần gũi. Vốn là một nhà nho, sống giữa thời loạn lạc, chứng kiến những giá trị đạo đức truyền thống bị đảo lộn, Nguyễn Bỉnh Khiêm lựa chọn cuộc sống nơi điền viên sơn thủy, thuận theo tự nhiên và gắn bó với tự nhiên. Đó là không gian sinh hoạt làng quê với những công việc lao động hằng ngày: Một mai, một cuốc, một cần câu; những món ăn bình dị nhưng không kém phần thanh cao: Thu ăn măng trúc, đông ăn giá; những thú vui không thể tìm thấy ở chốn phồn hoa, bon chen: Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao (“Nhàn”).
Trở về với thôn quê cũng chính là sự lựa chọn cách sống gạn đục, khơi trong; chọn lối sống nhàn để lánh xa những ô hợp. Đó là thái độ xử thế cầu nhàn, không cầu danh lợi, thể hiện sâu sắc triết lý sống: vinh hoa phú quý chỉ là phù du, mộng ảo; rời xa chốn hư danh, giữ khí tiết trong sạch, đó mới là bậc đại tài, đại trí, đại nghĩa. Tố Hữu là nhà thơ trữ tình cách mạng. Thơ ông là cuốn “biên niên sử” ghi lại những chặng đường cách mạng của đất nước.
Điều khiến chúng ta ấn tượng trong phong cách sáng tác của Tố Hữu là tính dân tộc đậm đà, thấm nhuần trong thơ ông. Có thể thấy rõ điều đó trong hầu hết tác phẩm của Tố Hữu, đặc biệt là bài thơ “Việt Bắc”. “Việt Bắc” là nỗi nhớ dài, nhớ cảnh, nhớ người, nhớ chiến khu, nhớ những kỉ niệm kháng chiến. Nỗi nhớ ấy xuất phát c 14 từ lối sống nghĩa tình của người Việt Nam ta từ bao đời nay.
Những tên đất, tên làng gắn bó máu thịt với con người kháng chiến, trở thành tình cảm thiêng liêng với quê hương, đất nước, con người Việt Nam: Nhớ gì như nhớ người yêu, Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương. Nhớ từng bản khói cùng sương, Sớm khuya bếp lửa người thương đi về. Ta bắt gặp tình cảm ấy trong thơ ca truyền thống, trong ca dao dân ca, tất cả như quen như lạ, vô cùng gần gũi, thân thuộc. Màu sắc dân gian trong “Việt Bắc” của Tố Hữu còn được biểu hiện ở thể thơ lục bát 6/8 thuần dân tộc, cùng lối kết cấu đối đáp, giao duyên thường thấy trong ca dao, dân ca; cách dùng đại từ xưng hô mình - ta tạo cảm giác vừa gần gũi, vừa trang trọng; đặc biệt là âm điệu ngọt ngào, trữ tình, tha thiết, quyến luyến, đưa người đọc vào thế giới của những kỉ niệm.
Chính phong vị dân tộc đó đã làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm trong lòng người đọc Việt Nam bao thế hệ. Riêng về Tản Đà, có thể thấy gia tài văn chương đồ sộ của thi sĩ thấm đượm phong vị An Nam. Nói phong vị An Nam trong thơ Tản Đà là nói đến hương vị, màu sắc riêng biệt, độc đáo, riêng có của xứ An Nam được Tản Đà mô tả, phân biệt với các không gian, vùng miền, khu vực khác. Phong vị ấy được thể hiện qua bức tranh thiên nhiên và đời sống xã hội; qua văn hóa ứng xử của con người An Nam, đặc biệt là qua nghệ thuật thơ ca Tản Đà.
Phong vị An Nam trong thơ Tản Đà qua cảnh sắc thiên nhiên 1. Địa danh An Nam c 15 Nước Nam ta trải dài theo địa hình chữ S, ẩn giấu bao điều kì diệu. Được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu ôn hòa, ta có đất liền, có biển đảo, có sông ngòi và đồi núi bao quanh. Trong thơ văn Tản Đà, không khó để nhận thấy, các địa danh đất Việt được nhắc đến rất nhiều.
Có thể liệt kê những địa danh quen thuộc: Hòa Bình, Yên Bái, Ba Đình, Tây Hồ, Hòn Gai (Quảng Ninh) Đồng Sành (Hải Phòng), Ninh Bình, Hàm Rồng (Thanh Hóa), Nghệ An, Hương Tích (Hà Tĩnh), Hải Vân, Huế, Sài Gòn, Chợ Lớn, Nha Trang, Phú Yên, Long Xuyên,. Mỗi địa danh nơi ông đi qua lại mang một đặc trưng khác biệt về thiên nhiên, ẩm thực và con người. Tất cả góp phần làm sinh động, phong phú thêm vẻ đẹp đa dạng của non sông gấm vóc. Từ Bắc vào Nam, mỗi dải đất non sông hiện diện trong thơ Tản Đà đều để lại trong lòng du khách những ấn tượng đặc biệt về cảnh non nước vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, hữu tình.
Trước hết là miền quê Bắc bộ: Tản Đà sinh ra bên núi Tản, sông Đà hùng vĩ, bút danh Tản Đà mà ông lựa chọn ấp ủ khát vọng và tình yêu quê hương đất nước: Ba Vì ở trước mặt, Hắc Giang bên cạnh nhà. (Tự thuật) Núi Tản sông Đà bao bọc, nuôi dưỡng tâm hồn thi sĩ từ thuở thiếu thời. Cho dù có đi khắp bốn phương trời, quê hương bản xứ vẫn luôn thường trực, đau đáu trong lòng thi sĩ, thể hiện khao khát thực hiện chí lớn, bộc lộ bản ngã, để lại sự nghiệp, tên tuổi cho đời. Ông đã đi khắp đất nước, nhưng sông núi quê hương vẫn là nơi ông luôn muốn trở về: Lạnh lẽo hơi thu chiếc lá bay, c 16 Gió đưa người cũ lại về đây.
Ba Vì Tây Lĩnh non thêm trẻ, Một dải thu giang, nước vẫn đầy. (Về quê cảm tác) Có thể nói, núi Tản sông Đà thường trực trong thi sĩ, là tâm hồn và cơ thể ông: Mạch nước sông Đà tim róc rách, Ngàn mây non Tản mắt lơ mơ. (Ngày xuân thơ rượu) Đứng trước sông núi quê hương, mảnh đất gắn bó như máu thịt cuộc đời, Tản Đà không khỏi xao xuyến, bùi ngùi xúc động.