mở đầu một thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam: thời kỳ độc lập, thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản của đất nước được độc lập, thống nhất, nhân dân Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phải gánh chịu những hậu quá nặng nề của chiến tranh. Miền Bắc vừa trải qua 2 lần chiền tranh phá hoại; miền Nam tuy trải qua kinh tế tư bản chủ nghĩa nhưng mới chỉ bước đầu. Cơ cấu kinh tế bất hợp lý, phân bố lao động mất cân đối, cơ sở vật chất, trang thiết bị nghèo nàn.
Việc triển khai mô hình kế hoạch hóa tập trung của miền Bắc vào khu vực miền Nam, vốn đã có mô hình cơ chế thị trường là một việc hết sức khó khăn. Những năm đầu tiến hành trong bối cảnh đất nước không mấy thuận lợi: thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên; các thế lực phản động tìm cách cản trở, phá hoại những thành quả cách mạng vừa đạt được. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa sau ngày giải phóng cũng không ngoại lệ. Khi chiến tranh kết thúc, các nhân tố hỗ trợ sản xuất không còn, các nhà máy, xưởng sản xuất phải đóng cửa vì thiếu 21 nguyên vật liệu.
Một số chủ cơ sở bị ảnh hường tâm lý lo sợ đã bỏ chạy ra nước ngoài dẫn đến việc công nhân viên thiếu việc làm, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt. Tình trạng các ngành nghề thủ công bị mai một cũng không phục hồi ngay được; nông dân phiêu tán nhiều, ruộng đất bỏ hoang ước khoảng 2 vạn ha [3, tr. Một tuần lễ sau ngày giải phóng (8/4/1975), thị xã Nha Trang và Cam Ranh còn phải chịu thêm trận bom của quân đội Sài Gòn (từ Ninh Thuận trở ra), giết hại thêm 100 người, gây thương tích 200 người và thêm một số nhà cửa bị phá hủy [3, tr. Thống kê sau chiến tranh cho thấy, toàn tỉnh có hơn 80% nhà bị địch đốt cháy; số dân từ ấp chiến lược trở về không có nhà cửa; người thất nghiệp, binh lính quân đội Sài Gòn rã ngũ, viên chức chính quyền Sài Gòn mất việc có hàng vạn người và hàng ngàn thương phế binh cần sự cưu mang giúp đỡ.
Trong suốt 20 năm chiến tranh, vùng căn cứ (nơi tập trung phần lớn đồng bào dân tộc ít người sinh sống), nằm ở phía tây tỉnh thường xuyên bị địch đánh phá, sản xuất, sinh hoạt gặp khó khăn. Trong cuộc tổng tiến công Xuân 1975, với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến”, các nguồn lương thực dự trữ đều được huy động hết. Do vậy, những ngày đầu giải phóng đã có tình trạng đói, rách, khoảng 2 vạn đồng bào miền núi trên địa bàn tỉnh thiếu ăn, số đồng bào không đủ quần áo mặc chiếm 70% [3, tr. Ở thành thị, các tệ nạn xã hội hết sức nặng nề, lối sống lai căng, phụ thuộc trở thành thói quen của một bộ phận cư dân, việc thích nghi hoàn cảnh mới rất khó khăn.
Tình trạng một gia đình, hai trận tuyến trong chiến tranh khá phổ biến, cùng với đòn chiến tranh tâm lý của kẻ địch, một bộ phận cư dân sau ngày giải phóng chưa hiểu đúng chính sách cùa cách mạng, số ít tướng lĩnh, nhân viên cao cấp chính quyền Sài Gòn chạy ra nước ngoài, số đông ở lại địa phương nhưng không an tâm trước cuộc sống mới. Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn cấp tỉnh thiếu nghiêm trọng, phần đông chưa được đào tạo chính quy; việc phân định chức năng, quyền hạn của các ty, ban, ngành và phân cấp quản lý của các cấp chưa rõ ràng; 22 hàng ngũ cán bộ xã, thôn, phường, khóm chưa được sàng lọc kỹ. Lợi dụng tình hình khó khăn về nhiều mặt, quản lý sơ hở, kẻ xấu đã nhiều lần tổ chức chống phá: rải truyền đơn, tung tin thất thiệt, nói xấu chế độ, tổ chức đưa người vượt biên trái phép. Nền kinh tế của tỉnh sau ngày giải phóng có sự đan xen nhiều quan hệ sản xuất.
Trong đó, loại hình quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại ở vùng tạm chiếm đóng vai trò chi phối kinh tế - xã hội của tỉnh lúc bấy giờ. Song song với đó là có thêm tầng lớp xã hội mới đó là tầng lớp: phú nông, trung nông và người làm thuê. Theo thống kê ruộng đất của tỉnh, sau ngày giải phóng, 2 huyện Khánh Ninh, Khánh Xương có 42 gia đình địa chủ, chiếm 4.454 mẫu đất; ruộng đất nhà thờ, nhà chùa hơn 10.000 mẫu, số đất do địa chủ, phú nông và tư bản nước ngoài chiếm khoảng 50% diện tích [3, tr. Vùng căn cứ cách mạng, chủ yếu là kinh tế “tự sản, tự tiêu”, sản xuất trực tiếp phục vụ đời sống nhân dân địa phương và phục vụ kháng chiến, trình độ, kỹ thuật sản xuất chưa có điều kiện nâng cao.
Xuất phát từ tình hình thực tế của đất nước sau chiến tranh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước là nhiệm vụ được đặt ra cho cách mạng Việt Nam ngay sau khi đất nước giải phóng (1975). Cách mạng miền Nam được Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 24 (9/1975) nêu rõ: “miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Biện pháp tiến hành xác lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp ở miền Nam là “kết hợp chặt chẽ cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp với xây dựng nền nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa., mặt khác phải thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp, làm từng bước, tích cực, vững chắc. Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 24 của Trung ương được Khu ủy V cụ thể hóa và chỉ đạo một cách cụ thể các bước tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa cho các tỉnh Nam Trung Bộ.
Trên cơ sở đó, tỉnh Khánh Hòa đã kịp thời vận dụng một cách sát hợp, tập trung vào 23 nhiệm vụ khôi phục, phát triển kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm nhanh chóng cùng cả nước thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xuất phát từ tình hình đất nước sau chiến tranh, thực hiện nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm (1976 - 1980): “Tập trung cao độ sức của cả nước, của các ngành, các cấp tạo ra một bước phát triển vượt bậc với nông nghiệp, ra sức đẩy mạnh lâm, ngư nghiệp.17], Khánh Hòa đã coi nông nghiệp là “chìa khóa” mở đầu của sự phát triển kinh tế. Các hoạt động kinh tế của tỉnh trong thời kỳ đầu sau giải phóng đã hướng vào mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa - trên tất cả các lĩnh vực, trong đó, trọng tâm là cải tạo nông nghiệp. Cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp là chặng đường đầu tiên trong thời kỳ quá độ, một yêu cầu khách quan và cấp bách nhằm xóa bỏ mọi hình thức bóc lột ở nông thôn, trên cơ sở đó, xác lập quan hệ sản xuất mới - gồm 2 thành phần: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể.
Nhằm giải quyết nạn đói, các huyện khẩn trương tổ chức tăng gia sản xuất, trồng các loại cây lương thực, các huyện Khánh Sơn, Khánh Vĩnh đã trỉa hàng ngàn giống bắp, hàng chục vạn gốc mì, cán bộ ban ngành trong huyện sản xuất tự túc trồng gần 30 vạn gốc mì tại Gia Lê và Suối Gia.670 ha, trong đó ruộng đất đang canh tác là 27.18], còn lại là ruộng hoang hóa; diện tích ruộng được tưới nước qua hệ thống thủy lợi chỉ chiếm 44,27%, diện tích bị hạn còn lớn. Hưởng ứng chủ trương của Đảng, nhân dân trong tỉnh tích cực đào mương, đắp đập, nạo vét kênh mương, tu bổ các đập: Đá Bàn ở Ninh Hoà, Cầu Dứa ở Vĩnh Xương. Nhân dân Diên Khánh đắp 5 đập bổi (hay còn gọi đập đá), 10 bờ xe nước, xây dựng 1 tổ bơm gồm 4 máy tưới cho gần 1. Ở Ninh Hòa, toàn huyện đắp xong đập Sông Cái và 2 tuyến mương về 7 xã, đảm bảo nước tưới cho hơn 1.000 ha và chống úng cho 500 ha vùng Ninh Giang, Ninh Hà [3, tr.
Đi đôi với việc làm thủy lợi đảm bảo nước tưới, tiêu phục vụ sản xuất, chính quyền cũng phát động nhân dân đẩy mạnh khai hoang phục hóa ở Đồng 24 Trăng, Đồng Tròn (Diên Khánh); Xuân Sơn, Hóc Chim, Đồng Bé (Vạn Ninh); Đồng Nẩy, Cung Hòa, Quảng Thiện, Tân Lâm, Tân Tứ (Ninh Hòa). được 500 ha ruộng đất đưa vào sản xuất. Bên cạnh đó, tỉnh còn tổ chức đưa những người không có công ăn việc làm ở thành phố, thị xã, thị trấn về nông thôn để sản xuất nông nghiệp, phục hóa khai hoang và xây dựng vùng kinh tế mới. Đến cuối tháng 8/1975, toàn tỉnh vận động đưa 24.320 người ở thị xã, thị trấn về nông thôn và vùng kinh tế mới trực tiếp tham gia sản xuất.
Ở Nha Trang, đưa được 1.372 gia đình về các vùng: Củ Chi, Diên Lâm, Diên Thọ (Diên Khánh); Phú Nhơn, Cung Hòa, Quảng Thiện (Ninh Hòa); Lỗ Lương, Đồng Lác, Núi Hời, Vĩnh Cẩm (Cam Ranh). Tại Cam Ranh có 852 hộ gồm 1.660 người đi khai hoang [3, tr.23] những nơi đất trống. Ngoài việc giúp đỡ hỗ trợ đối với đồng bào đi xây dựng kinh tế về lương thực, giống cây trồng, xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu, nông cụ và cho vay để ổn định cuộc sống và đầu tư vào sản xuất, chính quyền cũng tập trung xe ủi giúp dân ủi đất khai hoang, phân bổ đất ở và đất sản xuất, lập bệnh xá, trường học, cửa hàng mậu dịch, phòng thông tin.; Ở khu vực Củ Chi (Diên Khánh), tỉnh huy động 138 thanh niên xung phong và 70 thanh niên thường trực làm 12 km đường, xây dựng 5 lán trại [3, tr. Những biện pháp tích cực đó đã giúp cho đồng bào đi xây dựng kinh tế mới sớm ổn định cuộc sống trên quê hương mới.
Mặt khác, tỉnh còn thực hiện vận động đồng bào vùng cao xuống thấp, các địa phương tiến hành quy hoạch địa điểm, đất đai và vận động đồng bào đến địa điểm mới. Ở huyện Khánh Vĩnh, đồng bào các xã Giang Ly, Sơn Thái, Khánh Bắc, Khánh Hiệp đã chuyển đến khu định canh, định cư mới. Phương hướng sản xuất nông nghiệp trong thời gian sau giải phóng là phục hồi ruộng hoang hóa, coi trọng sản xuất lương thực, về lâu dài cần đưa cây ăn quả chế biến xuất khẩu lên thành hướng phát triển chính của nông nghiệp.