Chương 1 này, người viết sẽ nêu bối cảnh trong nước và quốc tế sau năm 1945 cũng như những hoạt động đấu tranh tham chính cửa phụ nữ Nhật trước chiến tranh, để từ đó làm nổi bật diễn biến phát triển của phong trào sẽ được trình bày ở Chương hai. Chương 2: Sự hình thành và phát triển của phong trào tham chính sau Chiến tranh thế giới thứ 2, cũng là chương quan trọng nhất của luận văn. Ở chương này, người viết trình bày các bước phát triển chính cùng những thành tựu mà phụ nữ Nhật đã đạt được trong phong trào đấu tranh tham chính. Đặc biệt người viết tìm hiểu về các hoạt động đấu tranh tham chính của phụ nữ Nhật thông qua các tổ chức thành lập do nhu cầu giải quyết các vấn để của đời sống.
Chương 3: Ý nghĩa và một số hạn chế trong phong trào đấu tranh đòi quyền tham chính của phụ nữ Nhật, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Ở chương này người viết đánh giá vị trí, ý nghĩa của phong trào tham chính đối với phong trào phụ nữ ở Nhật nói chung và những đóng góp cho xã hội Nhật Bản, cũng như những hạn chế của phong trào, trên cơ sở đó rút ra bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu: Để viết luân văn “Phong trào đấu tranh đòi quyền tham gia chính trị của phụ nữ ở Nhật Bản từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1945) đến nay” người viết sử dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu. Trước hết, vì một trong những nhiệm vụ của Luận văn là làm rõ quá trình diễn tiến của phong trào tham chính của phụ nữ ở Nhật Bản nên việc sử dụng các z tư liệu lịch sử là rất cần thiết.
Đối với các tư liệu này, người viết sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, phương pháp so sánh để thấy sự phát triển của phong trào tham chính của phụ nữ ở Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai so với thời kỳ trước đó, đồng thời cũng thấy được sự chuyển biến qua từng giai đoạn trong thời kỳ sau Chiến tranh. Để minh chứng cho sự phát triển và những thành tựu mà phụ nữ Nhật đã đạt được trong phong trào đấu tranh tham chính sau Chiến tranh, người viết rất chú trọng sử dụng các tài liệu thống kê. Do vậy phương pháp thống kế và xử lý số liệu được coi là một trong những phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong luận văn. z Chƣơng 1 : Tiền đề phong trào tham chính của phụ nữ Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai 1.1 Phong trào tham chính của phụ nữ thế giới và Nhật Bản trƣớc chiến tranh thế giới thứ hai 1.1 Vị trí chính trị của phụ nữ Nhật trƣớc Chiến tranh thế giới thứ hai Vị trí của người phụ nữ Nhật Bản đã thay đổi rất nhiều lần trong lịch sử, họ đã có đóng góp ít nhiều cho lịch sử Nhật Bản.
Xã hội đã có một thời gian tồn tại với chế độ mẫu hệ. Trong lịch sử Nhật Bản, rất nhiều người phụ nữ đã trở thành nữ hoàng, đặc biệt nhiều trong số họ đã tạo ra “sóng gió” trong lịch sử Nhật Bản như nữ hoàng Suiko (là Thiên Hoàng thứ 33 của Nhật Bản, trị vì từ năm 593 đến năm 628), Saimei (trị vì từ năm 655 đến năm 661), Jito (686 – 697) thời Asuka, nữ hoàng Koken (749 - 758) thời Nara. Có thể nói ở giai đoạn này phụ nữ Nhật Bản đóng vai trò trung tâm, có ảnh hưởng sâu sắc đối với tôn giáo và chính trị. Sang thời kỳ Heian (794 – 1185) (là thời kỳ phân hóa cuối cùng trong lịch sử Nhật Bản, cũng là thời kỳ đạo Khổng và các ảnh hưởng từ Trung Quốc phát triển đỉnh cao ở Nhật Bản), làn sóng học tập văn minh Trung Hoa khá mạnh mẽ trong xã hội Nhật Bản.
Sự du nhập của Đạo Khổng và Phật giáo vào Nhật Bản đã làm chuyến biến xã hội một cách rõ rệt. Cũng như các quốc gia ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa, xã hội Nhật Bản cũng chuyển dần sang cơ cấu gia trưởng. Những nguyên tắc khắt khe với phụ nữ, những quy chuẩn về đạo đức như “tam tòng, tứ đức” của Đạo Khổng đã được Nhật Bản hóa. Vì vậy, trong xã hội có sự thay đổi mạnh mẽ về vị trí của người phụ nữ, đóng khung họ với vai trò làm vợ, làm mẹ, với bổn phận chăm sóc gia đình.
Do các quy định chặt chẽ như vậy mà phụ nữ Nhật phải cam chịu với không gian góc bếp, ngôi nhà của mình để chăm sóc chồng con và dần dần bị loại trừ ra khỏi các hoạt động trong lĩnh vực công. Có thể nói, tư z tưởng Nho giáo du nhập từ Trung Quốc đã đặt người phụ nữ Nhật Bản vào vị trí thấp trong xã hội. Họ phải chấp nhận bổn phận đó của mình, nhưng đằng sau sự cam chịu đó là một sức mạnh phi thường. Thời Meiji vị trí chính trị của người phụ nữ cũng còn rất thấp kém bởi chính quyền bảo vệ mô hình gia đình gia trưởng, đề cao vị trí người đàn ông, khẳng định sự phụ thuộc của người phụ nữ.
Năm 1871 chính quyền ban hành Luật về Hộ tịch để khẳng định về mặt pháp luật sự phụ thuộc của người phụ nữ trong gia đình vào người đàn ông. Cùng với đó, chính quyền có những quy định khiến phụ nữ Nhật bị loại trừ ra khỏi các hoạt động chính trị. Theo Hiến pháp Minh Trị chỉ những người nộp thuế trực tiếp cho nhà nước từ 15 yên trở lên thì mới được tham gia bỏ phiếu. Trong khi đó, dưới thời Minh Trị, người phụ nữ bị xem như những trẻ vị thành niên về quyền sở hữu tài sản.
Phụ nữ không được pháp luật công nhận quyền sở hữu tài sản, mà tất cả đều phải chịu sự giám sát của người chồng trong gia đình. Trong điều kiện xã hội như vậy, phụ nữ Nhật không hề cam chịu mà có những hoạt động nhằm giành quyền tham gia chính trị về cho phái mình. Nửa sau thập niên 1870, cùng với sự sôi nổi của phong trào đòi quyền dân chủ, ở Nhật xuất hiện việc kêu gọi về tính cần thiết của việc phụ nữ tham chính.Tháng 1 năm 1874, tại Viện nguyên lão, Itagaki Taisuke8 đã đưa raề xuất bản đề xuất “Tự bạch thiết lập nghị viên dân chủ”. Sự kiện này đã làm dấy lên các phong trào đấu tranh dân chủ mạnh mẽ ở Nhật.
Tuy nhiên, lực lượng tham gia chủ yếu lại là nam giới. Do đó, quyền tham gia chính trị của phụ nữ chưa được đem ra để nghị luận. Năm 1890 chính quyền ban hành luật cấm các phong trào đấu tranh chính trị của phụ nữ, nhưng điều này không thể ngăn chặn được tinh thần đấu tranh của phụ nữ. Năm 1886 họ thành lập “Hội phụ nữ cải cách Tokyo”(東京婦人矯風会) để đấu tranh.
8 Itagaki Taisuke (板垣退助) sinh năm 1837 mất năm 1919, là một nhà chính trị đồng thời cũng là một nhà lãnh đạo phong trào đòi quyền dân chủ của Nhật Bản. z Ở thời cận đại, khi quá trình tư bản hóa nền kinh tế ở Nhật Bản diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là từ sau khi Nhật Bản bị Mỹ ném 2 quả bom nguyên tử , việc người phụ nữ tham gia lao động ngoài xã hội cũng trở nên phổ biến hơn. Thời kỳ này những ngành nghề sử dụng lao động nữ trong xã hội Nhật cũng dần trở nên đa dạng: ngoài việc trở thành công nhân trong những nhà máy dệt, phụ nữ có thể trở thành giáo viên trường tiểu học, bác sĩ, y tá, nhà báo, nhân viên ngân hàng, các công ty bảo hiểm, nhân viên ngành bưu điện, đường sắt, nhân viên bán hàng trong các bách hóa, các cửa hàng thuốc, nhân viên đánh máy, nhân viên phục vụ… Trong hai thập niên đầu thế kỷ XX, ở Nhật thịnh hành các luận thuyết đề cao và nhấn mạnh “tính mẫu” (母性) ở người phụ nữ, thể hiện xã hội cần người phụ nữ ở góc độ chăm sóc gia đình và nuôi dạy con cái(“良妻賢母” nghĩa là “Lương thê hiền mẫu”). Mặc dù vậy, phụ nữ Nhật vẫn không quên đấu tranh giành quyền tham gia chính trị.
Tinh thần đấu tranh tham chính của phụ nữ Nhật lúc bấy giờ thể hiện tiêu biểu qua các phong trào đấu tranh như là phong trào đấu tranh của phụ nữ theo đường lối xã hội chủ nghĩa9; phong trào đấu tranh nhằm lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa mà họ cho là nguyên nhân gây lên sự nghèo khổ cho phụ nữ nói riêng và người lao động nói riêng, hay các phong trào đấu tranh đòi thay đổi các điều luật về hôn nhân bất bình đẳng giới. Đặc biệt, vào năm 1905 diễn ra diễn ra các phong trào yêu cầu thay đổi Điều 5 trong “Luật về Cảnh sát và trị an” (Ban hành năm 1900), quy định cấm phụ nữ thành lập các tổ chức xã hội, hay các cuộc tụ họp mang tính chất chính trị. Tháng 1 năm 1905, lần đầu tiên phụ nữ Nhật đã gửi lên Quốc hội bản yêu cầu có chữ ký của 500 người đòi xóa bỏ điều luật trên. Đây là hoạt động được đánh giá là gây tiếng vang lớn trong việc đòi quyền tham chính bằng cách kiến nghị lên cơ quan lập pháp là Quốc hội đầu tiên của phụ nữ 9 Phong trào đấu tranh của phụ nữ theo đường lối Xã hội Chủ nghĩa với vai trò hoạt động nổi bật của Fukuda Hideko (1865-1927) và Yamakawa Kikue (1890 – 1980).
Cũng trong năm 1905 phụ nữ Nhật đã tổ chức 13 cuộc diễn thuyết với nội dung ban đầu là để tuyên truyền về sự bất bình đẳng giới, nhưng sau đó các cuộc diễn thuyết này đã phát triển thành các phong trào đấu tranh giành quyền tham chính. Năm 1931 ở Nhật xảy ra Sự biến Mãn Châu10. Trong 15 năm diễn ra sự biến, nước Nhật càng trở nên cần sức lao động của người phụ nữ nhất là trong lĩnh vực sản xuất quân nhu, cung cấp cho chiến tranh. Cuộc chiến kéo dài khiến cho sức lao động của nam giới trở nên thiếu trầm trọng, nên lao động nữ đã bổ sung cho sự thiếu hụt đó.
Phụ nữ tham gia lao động trên những lĩnh vực mà vẫn được cho là của nam giới như các ngành công nghiệp nặng, đóng tàu, thậm chí lái ô tô, xe buýt… Tuy nhiên, sau khi chiến tranh kết thúc, ngành công nghiệp phục vụ chiến tranh đóng cửa. Hơn nữa,vì có chính sách ưu tiên đối với những nam giới tham gia chiến đấu trở về lao động, sản xuất, nên rất nhiều phụ nữ bị buộc thôi việc.000 lao động nữ, nhưng sang năm 1945 chỉ còn 2.000 lao động nữ. Trong Chiến tranh thế giới thứ 2, phụ nữ Nhật được xem như là những nạn nhân của chiến tranh.