Chương 1. Quá trình thực hiện “quốc sách ấp chi n lược” của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Kon Tum (1961-1965) (gồm 19 trang, từ trang 7 đ n trang 26 ). Quân dân Kon Tum đấu tranh chống lập ấp và phá ấp chiến lược (1961-1965) (gồm 23 trang, từ trang 27 đ n trang 50). Một số nhận xét (gồm 19 trang, từ trang 51 đ n trang 70).
QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN “QUỐC SÁCH ẤP CHIẾN LƢỢC” CỦA MỸ VÀ CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA Ở KON TUM (1961-1965) 1. Khái quát tình hình tỉnh Kon Tum trƣớc khi Mỹ xâm lƣợc và dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa 1. Điều kiện tự nhiên Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao, biên giới, nằm ở phía bắc Tây Nguyên trong tọa độ địa lý từ 107 20 15" đến 108 32 30" kinh độ đông và từ 13 55 10" đến 15 27 15" vĩ độ bắc; có tổng diện tích tự nhiên là 9.690,46 km²; phía Tây giáp Lào, Campuchia với 280,7 km đường biên giới, phía ắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp với tỉnh Gia Lai. Đây là tỉnh duy nhất trong cả nước có đường biên giới chung với hai nước Lào và Campuchia.
Nằm ở vị trí chiến lược ngã ba Đông Dương, trong vùng lõi khu vực tam giác phát triển Việt Nam – Lào - Campuchia, nên Kon Tum là điểm kết nối, trung chuyển trên trục Đông - Tây, Núi - Biển. Với vị trí địa - chính trị, địa - kinh tế quan trọng như vậy nên từ xa xưa các thế lực thù địch luôn nhòm ngó và coi Kon Tum là địa bàn mà chúng phải nắm giữ bằng mọi giá. Đối với Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, Kon Tum là vị trí tiền tiêu, là trung tâm căn cứ quân sự nối liền với hạ Lào, đông Miên, miền Tây Quảng Nam, Quảng Ngãi. Vì vậy, Mỹ - Diệm ra sức bám giữ và xây dựng, cấu kết bọn phản động Lào, Miên thực hiện âm mưu nối liền giữa bọn chúng và đánh phá cách mạng.
Ngược lại, đối với cách mạng, Kon Tum là một vị trí quan trọng nằm trong vùng căn cứ cách mạng ở Khu V và cả miền Nam, đầu mối tiếp giáp với miền Bắc xã hội chủ nghĩa, lưng dựa của các tỉnh ven biển miền Trung. Nếu xây dựng được căn cứ Kon Tum vững mạnh sẽ có tác dụng rất lớn cho việc mở rộng và nối liền căn cứ hạ Lào, đông bắc Campuchia, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai, nối liền hành lang chiến lược. Đây cũng là một vị trí thuận lợi để tiêu diệt nhiều sinh lực đối phương. Phần lớn tỉnh Kon Tum nằm ở phía Tây của dãy Trường Sơn, địa hình thấp dần từ ắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.
Phía ắc địa hình rất dốc, có đỉnh Ngọc Linh cao nhất khu vực phía nam Việt Nam với độ cao tuyệt đối 2.598m, độ cao trung bình phía ắc 800m - 1.200m, phía Nam từ 500m – 530m. Địa hình của tỉnh Kon Tum khá đa dạng, bao gồm đồi núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau. Trong đó, 8 địa hình đồi, núi chiếm khoảng 2 5 diện tích toàn tỉnh, phân bố chủ yếu ở phía bắc - tây bắc chạy sang phía đông tỉnh Kon Tum; địa hình thung lũng nằm dọc theo sông Pô Kô đi về phía nam của tỉnh; địa hình cao nguyên có cao nguyên Kon Plong nằm giữa dãy n Khê và dãy Ngọc Linh có độ cao 1. Dựa vào địa hình rừng núi chia cắt phức tạp, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, nhân dân các dân tộc tỉnh Kon Tum đã xây dựng làng chiến đấu, phát triển lực lượng, đẩy mạnh chiến tranh du kích, tổ chức xây dựng nơi đây thành hậu cứ của cách mạng.
Nhiệt độ trung bình hàng năm giao động từ 20 C đến 23,5 C, tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng giêng, tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 4, tháng 5. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình biến đổi từ 1. Vùng núi phía ắc và Đông ắc lượng mưa trung bình khá cao 2.900mm, có nơi lượng mưa đến 3.000mm như Đắk Man, Mường Hoong (Đắk Glei) Ngọc Tem (Kon Plong).
Hệ thống sông ngòi của tỉnh Kon Tum khá đa dạng. Các sông, suối chủ yếu bắt nguồn từ phía bắc và đông bắc chảy về phía tây nam, thường có lòng dốc, thung lũng hẹp, nước chảy xiết. Hai nhánh sông chính là sông Pô Kô dài 121km và sông Đắk Bla dài 144km. Hai nhánh sông này cùng đổ vào sông Sê San ở phía tây của tỉnh.
Ngoài ra còn có các sông, suối khác như phía đông bắc tỉnh là đầu nguồn của sông Trà Khúc và phía bắc của tỉnh là đầu nguồn của 2 con sông Thu ồn và Vu Gia; sông Sa Thầy bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Rinh Rua, chảy theo hướng bắc - nam, gần như song song với biên giới Campuchia, đổ vào dòng Sê San. Với chất lượng nước, thế năng,. của các sông rất thuận lợi cho việc xây dựng các công trình thủy điện, thủy lợi; đem lại nguồn thủy sản dồi dào cung cấp cho nhu cầu tại chỗ. Tuy nhiên, với địa hình dốc, nên mùa mưa thường xảy ra lũ quét trên các sông, suối, gây chia cắt cục bộ, khó khăn cho việc đi lại và hoạt động quân sự gặp nhiều trở ngại.
Khoáng sản ở Kon Tum rất đa dạng về loại hình như: sắt, crôm, vàng, nguyên liệu chịu lửa, đá quý, bán quý, kim loại phóng xạ, đất hiếm, nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng,. Tài nguyên đất đỏ azan phù hợp với việc phát triển cây công nghiệp như cao su, cà phê,. Ngoài ra, tỉnh Kon Tum còn có thảm thực vật đa dạng với khoảng hơn 300 loài 9 thực vật, thuộc hơn 180 chi và 75 họ thực vật có hoa. Đặc điểm nổi trội nhất vẫn là rừng rậm với quần hợp chủ đạo là thông hai lá, dẻ, re, pơmu, đỗ quyên, chua,.
cùng với các loại dược liệu quý hiếm như sâm Ngọc Linh, đ ng sâm, hà thủ ô, quế. Động vật rất phong phú, trong có nhiều loài hiếm, bao gồm chim có 165 loài, 40 họ, 13 bộ, có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn; thú có 88 loài, 26 họ, 10 bộ, chiếm 88 loài thú ở Tây Nguyên. Đáng chú ý nhất là động vật ăn cỏ như: voi, bò rừng, bò tót, trâu rừng, nai, hoẵng,. Điều kiện kinh tế - xã hội Nền kinh tế cổ truyền của đồng bào các dân tộc tỉnh Kon Tum chủ đạo là nông nghiệp với công cụ sản xuất thô sơ, phương thức sản xuất giản đơn.
Nông nghiệp trồng trọt gắn với các hình thức sản xuất khác nhau như: canh tác nương rẫy, làm ruộng nước, ruộng khô, làm vườn đồi… Trong đó, hình thức nổi bật nhất và chung nhất là canh tác nương rẫy với phương thức phát, đốt, chọc, trỉa. ên cạnh trồng lúa là chủ yếu, đồng bào ở đây còn trồng kê, ngô, sắn, bầu, bí, dưa, dứa, chuối, mía. Mặc dù phương thức sản xuất còn giản đơn, năng suất chưa cao, nhưng với bàn tay và sức lao động của mình, các dân tộc tỉnh Kon Tum không chỉ tự túc được lương thực mà còn góp phần cung cấp một sản lượng lương thực đáng kể để nuôi quân trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ngày nay, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, các dân tộc đã biết trồng các loại cây công nghiệp và dược liệu quý như sâm, quế, cau, cà phê, cao su, sắn… Ngoài ra, nhân dân còn chăn nuôi gia cầm, gia súc với quy mô nhỏ theo hộ gia đình.
Một số vùng đồng bào dân tộc còn duy trì nghề săn thú rừng, đánh bắt cá ở sông, suối. Thủ công nghiệp, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ. Nghề dệt vải có ở nhiều vùng, với khung dệt kiểu Inđônêdiêng khá thịnh hành tạo được tấm vải khổ rộng, hoa văn đẹp. Nghề rèn khá phổ biến, họ biết chế sắt từ quặng để rèn; ngoài việc rèn đúc công cụ lao động sản xuất là chủ yếu, sắt còn được sử dụng chế tạo vũ khí chiến đấu thô sơ như chông, giáo, mác,.
Nghề đan lát phát triển, cung cấp nhiều vật dụng trong sinh hoạt, nhất là gùi dùng để đựng đồ mặc, trang sức, vận chuyển…Nghề làm đồ gốm mặc dù chưa phổ biến nhưng cũng sản xuất một số dụng cụ phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày. Quan hệ hàng hoá trước kia dùng vật đổi vật, nay đã dùng tiền. Do địa hình phức tạp, nên giao thông đi lại buổi đầu ở Kon Tum có nhiều khó 10 khăn. Cho đến khi người Pháp thiết lập chế độ cai trị, hệ thống đường bộ như đường 14, đường 19 kép được ra đời.
Từ sau 1954, chính quyền Sài Gòn tu bổ, mở rộng thêm những con đường mới. Tính đến 1963, hệ thống đường bộ ở Kon Tum có: quốc lộ 141, quốc lộ 19 kép2, quốc lộ 243, quốc lộ 404. ên cạnh quốc lộ, còn có hệ thống liên tỉnh lộ, tỉnh lộ, liên hương, liên xã và nội địa. Từ năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa xây dựng một số sân bay quân sự ở Kon Tum như sân bay Kon Tum (phía tây bắc thành phố Kon Tum), sân bay Phượng Hoàng (Tân Cảnh-Đắk Tô), Măng úk (Kon Plong)., Sự hình thành và phát triển mạng lưới giao thông đã phá vỡ tính khép kín vốn có của tỉnh Kon Tum.
Trong xã hội cổ truyền, đất đai ở Kon Tum thuộc quyền sở hữu của từng làng (quyền sở hữu tập thể đất đai), người thay mặt cho cộng đồng sở hữu là chủ làng, từ thời thuộc Pháp là các chủ làng, chủ đất. Dưới thời chính quyền Việt Nam Cộng hòa, quyền sở hữu đất đai của đồng bào dân tộc bị truất, chuyển thành sở hữu công sản quốc gia [76, tr. Về thành phần dân tộc, có 7 dân tộc thiểu số tại chỗ, sinh sống lâu đời đó là Xơ- đăng, Ba-na, Giẻ -Triêng, Gia-rai, Hrê, B’râu, Rơ-măm … Ngoài ra, còn có đồng bào di dân từ nơi khác đến như người Kinh và các dân tộc thiểu số khác. Người Kinh đến Kon Tum vào khoảng thế kỉ XVII [75, tr.
Từ năm 1954 trở về sau, dân số người Kinh tăng lên rất nhanh do việc định cư số dân di cư từ miền Bắc vào sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954) và số dân các tỉnh đồng bằng miền Trung bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa cưỡng ép đi dinh điền từ năm 1957. Kon Tum là địa bàn có mật độ dân số thấp nhất ở Tây Nguyên. Năm 1963, mật độ dân số ở Kon Tum là 10 người/ km² [34, tr.